Ý nghĩa vầng hào quang trên đầu và sau lưng tượng Phật

Trong nghệ thuật hội họa Phật giáo, đỉnh đầu và sau lưng tượng Phật Đà, Bồ Tát, thánh giả hầu hết được bao trùm bởi một quầng sáng rực rỡ. Vì vầng hào quang ở đầu và lưng là đặc trưng phân biệt quả vị Phật giáo. Do đó, phải đặc biệt coi trọng xử lý vị trí này của tượng Phật và cũng có nhiều phương pháp.

Cảnh giới cao nhất của Phật giáo là “thành Phật”, bản chất của giác ngộ là ánh sáng quang minh phổ chiếu. Do đó, Phật Đà – quả vị cao nhất không những có vầng hào quang ở đầu, mà còn có vầng hào quang sau lưng, tượng trưng đã đạt được cảnh giới đại ngộ.

Bồ Tát là quả vị cao thứ hai chỉ có vầng hào quang ở đầu không có sau lưng.

Thanh văn, Hộ pháp có quả vị sau Bồ Tát, dựa vào giáo nghĩa chỉ có những vị viên mãn đức hạnh mới có vầng hào quang ở đầu.

Trong hội họa Phật giáo, có một số vị đại Bồ Tát không những có vầng hào quang ở đầu mà còn có ở lưng. Thanh văn và Hộ pháp có vầng hào quang ở đầu biểu thị địa vị thần thánh của họ.

Trong điêu khắc tượng Phật, cũng có nhiều vầng hào quang ở đầu và vầng hào quang ở lưng hình thuyền. Trong đó, có nhiều kiểu dáng và phương pháp chế tác mang đặc điểm và phong cách thời đại, đây chính là căn cứ để luận đoán niên đại của một tác phẩm.

vầng hào quang tượng Phật
Tượng Quán Âm (niên đại chưa xác định) tìm thấy ở Trung Quốc
vầng hào quang tượng Phật
vầng hào quang tượng Phật
vầng hào quang tượng Phật
vầng hào quang tượng Phật

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Tạo hình tư thế tay – thủ ấn của tượng Phật

Tượng Phật dùng một vài thế tay cố định biểu đạt ngụ ý đặc biệt gọi là “thủ ấn”.

Dưới đây là một số thủ ấn thường gặp:

Ấn thiền định (Dhyana-mudra): hai tay xếp lên nhau đặt trước bụng, lòng bàn tay hướng lên trên biểu thị thiền định.

Tượng Phật thủ ấn thiền định
Tượng Phật thủ ấn thiền định

Ấn thuyết pháp: tay trái đặt lên chân, tay phải dơ lên, co ngón trỏ và ngón cái thành hình tròn. Biểu thị tư thế Phật thuyết pháp, cũng chính là “tướng thuyết pháp”.

tượng Phật ấn thuyết pháp
tượng Phật ấn thuyết pháp
Ấn thuyết pháp
Ấn thuyết pháp

Ấn dữ nguyện: thường dùng trong tượng đứng, tay trái buông thõng tự nhiên xuống dưới, lòng bàn tay hướng ra ngoài gọi là “ấn Dữ nguyện”. Biểu thị có thể thỏa mãn tất thảy nguyện vọng của chúng sinh.

tượng Phật ấn dữ nguyện
tượng Phật ấn dữ nguyện

Ấn thí vô úy (Abhaya-mudra): nâng tay phải, 5 ngón tay hướng lên trước, lòng bàn tay hướng ra ngoài biểu thị có thể giải trừ khổ nạn của chúng sinh. Tượng đứng này gọi là “tượng Phật đàn hương”. Truyền thuyết kể rằng, khi Phật Đà còn trụ thế, vua Ưu Điền của Ấn Độ dựa vào thụy tướng của Phật dùng gỗ chế tác. Về sau phỏng theo hình tượng này cũng gọi là tượng Chiên Đàn.

Tượng Phất ấn thí vô úy
Tượng Phất ấn thí vô úy

Ấn Chuyển pháp luân (Dharmacakra-mudra): Tay phải duỗi bằng năm ngón. Thủ ấn Chuyển pháp luân của Phật A Di Đà là tay phải ấn lên bàn tay trái, đặt trên chân, trong bàn tay có bình quý. Tượng Phật Dược Sư là duỗi thẳng tay phải, bàn tay hướng ra ngoài, ngón trỏ và ngón cái kẹp một viên thuốc.

Ấn chuyển pháp luân
Ấn chuyển pháp luân

Ấn Hợp thập (Anjali-mudra): còn gọi là Ấn Hợp chưởng, 2 bàn tay chập làm một, 2 lòng bàn tay úp vào nhau đặt trước ngực. Đây là tư thế thường dùng của các chúng tăng biểu thị sự thành kính lễ. Trong tạo tượng người cúng dường cũng thường dùng thủ ấn này.

Tượng Phật Ấn Hợp chưởng
Tượng Phật Ấn Hợp chưởng

Tất cả tượng Phật từ hình thể, dung mạo về cơ bản là giống nhau, ít có điểm khác biệt. Do đó, phân biệt các vị Phật khác nhau chủ yếu căn cứ vào thủ ấn. Ví dụ: Phật Thích Ca Mâu Ni có sự khác biệt của tượng thuyết pháp, giáng ma, thiền định. Tay phải dơ lên, ngón trỏ và ngón cái tạo thành hình tròn, 3 ngón còn lại hơi duỗi là tướng thuyết pháp.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Các tư thế của tượng Phật

Trong nghệ thuật điêu khắc, chế tác tượng Phật, tượng Phật có tư thế đứng, ngồi, bay, trong đó tư thế quỳ phần lớn gặp ở tượng người cúng dường, bay chỉ gặp ở Phi thiên trong hàng thần Hộ pháp. Tư thế ngồi cần đặc biệt chú ý cách sử dụng còn tùy vào kiểu ngồi và thủ ấn. Ví dụ, tượng Phật có hai tư thế đứng, ngồi, nhưng ngồi hầu hết là tư thế xếp bằng hai bên, còn cần phối hợp với thủ ấn. Có các hình thức tạo tượng như tượng thiền định, tượng thuyết pháp.

tư thế tượng Phật
tư thế tượng Phật

Tượng Phật ngồi xếp bằng (gia phụ tọa)

Tượng Phật ngồi xếp bằng gọi tắt là “gia phu”, “phu” chỉ mu bàn chân, 2 chân đan chéo đặt lên 2 đùi trái, phải.

Ngồi xếp bằng là tư thế ngồi khi Phật tu hành, còn có thể phân thành xếp bằng cả hai bên và xếp bằng một bên.

Ngồi xếp bằng là tọa pháp khi Phật tu hành, có thể phân hai loại: ngồi xếp bằng hai bên và ngồi xếp bằng một bên.

Tượng Phật ngồi xếp bằng hai bên

Tượng Phật ngồi xếp bằng hai bên tức hai chân đan chéo đặt trên hai đùi trái, phải, hay còn gọi là “song bàn”. Do hai chân đan chéo, có sự phân biệt chân nào đè lên trước, do đó “song bàn” còn gọi là “giáng ma tọa”, “cát tường tọa”.

Giáng ma tọa là chân phải đè lên đùi trái trước, sau đó chân trái đè lên đùi phải, tăng nhân Thiền tông phần lớn dùng tư thế ngồi này. Khi tạo tượng, đây là tư thế ngồi của đức Phật.

Cát tường tọa là chân trái đè lên đùi phải trước, sau đó chân phải đè lên đùi trái, lòng bàn chân của hai chân ngửa lên hai đùi, Mật tông gọi là “liên hoa tọa”. Khi tạo tượng, đây là tư thế ngồi của Phật.

Tượng Phật ngồi xếp bằng một bên

Là chỉ 1 chân đè lên 1 đùi, còn gọi là “đơn bàn”, dù là chân trái đè lên đùi phải hay chân phải đè lên đùi trái đều thuộc tư thế ngồi này, Mật tông gọi là “cát tường tọa” cũng là cách ngồi của các tăng nhân. Khi tạo tượng, Phật không dùng tư thế này, chỉ dùng cho tượng Bồ Tát.

Tượng Phật ngồi dựa

Còn gọi là thiện gia phụ tọa, tư thế ngồi thẳng để 2 bắp chân duỗi xuống tự nhiên. Ngoài ra, tượng Di Lặc ngồi đan chéo chân thời kỳ đầu để hai bắp chân đan chéo nhau, cũng là tư thế ngồi dựa hay ngồi chéo chân.

Tượng Phật ngồi dựa xếp bằng một bên

Là tư thế ngồi thẳng, bắp chân trái thả xuống, bắp chân phải ngồi xếp bằng. Dùng cho tượng Bồ Tát tư duy.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Phương pháp tạo tượng Phật giáo

Thông thường là tạo tượng điêu khắc, nặn tượng hoặc hội họa. Nghệ thuật điêu khắc nặn tượng Phật có: đúc tượng, tượng đóng, điêu khắc trên gỗ, đá, tượng nặn bùn, tượng giáp trữ, tượng bùn giấy, tượng sứ, tượng nén, tượng dầu bơ. Các thể loại tranh vẽ có: bích họa, tranh trục cuộn, thêu, dệt.

Tượng đóng: dùng bản đồng mỏng gõ thành. Thời kỳ Tây Tấn bắt đầu dùng phương pháp này.

Tượng đúc: Dùng đồng đúc thành. Thời kỳ Lục triều đã có tượng đúc đồng dát vàng loại nhỏ, trình độ tinh xảo, sau vầng hào quang ở lưng hoặc trên tòa có khắc chữ.

Tượng điêu khắc: điêu khắc đá, gỗ, ngọc. Thời Bắc Ngụy đến Tùy Đường có không ít tượng điêu khắc đá còn lưu truyền, có hình tượng đơn lẻ hoặc nhiều loại trên 1 tảng đá, có hình am thờ, trên đài tọa được khắc chữ hoặc đề tên.

Tượng giáp trữ: còn gọi là tượng thoát thai. Trước tiên, dùng bùn nặn thành hình, thêm khung gỗ, quấn thêm vải gai, sau đó quét sơn, đợi đến khi sơn khô, cạo bỏ bùn đất bên trong. Đây là thể loại thịnh hành ở thời Nam triều và thời Đường.

Tượng nặn màu: dùng chất liệu bùn nặn thành. Trong hang đá chùa Bính Linh và hang đá Đôn Hoàng, Cam Túc bảo tồn không ít tượng nặn tinh xảo từ thời Lục triều đến triều Tống, phong cách nghệ thuật đa dạng.

Tượng sứ: dùng chất liệu sứ tạo thành. Có sứ 3 màu, sứ màu và sứ trơn, đặc biệt tượng 3 màu thời Đường, tượng Phật sứ trắng Đức Hóa thời Minh, Thanh nổi tiếng nhất.

Tượng thêu: dùng sợi thêu trên lụa gấm, các thời đại đều có.

Tượng dệt: còn gọi là tượng dệt lụa hoa, dùng chỉ và sợi vàng dệt thành, là tượng Phật có giá trị quý hiếm.

Tượng bùn và tượng sứ: dùng khuôn ép bùn thành tượng điêu khắc kích cỡ nhỏ. Đời Đường có tượng bùn thiện nghiệp; thời Minh, Thanh có sát sát ảnh hưởng từ Phật giáo Tạng truyền.

tượng Phật bằng Đồng Trung Quốc
Tượng Phật bằng Đồng của Trung Quốc (thế kỷ 19)
tượng Phật bằng đồng Nepal
Tượng Phật bằng Đồng của Nepal
tượng Phật ở Thái Lan
tượng Phật ở Thái Lan (thế kỷ 14)

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Nghệ thuật tranh thủy lục trong Phật giáo

Pháp hội thủy lục thời kỳ Minh, Thanh là một nghi thức tôn giáo trọng đại trong Phật giáo. Một kỳ cử hành pháp hội thủy lục ít thì 7 ngày, nhiều thì 49 ngày, khi cử hành trong điện đường treo các tranh theo đề tài tôn giáo, gọi chung là “tranh thủy lục”. Tranh thủy lục nhiều khi có thể tới 100 hoặc 120 bức, ít thì 32 hoặc 72 bức, phân thành 2 bộ phận thượng đường và hạ đường.

Tranh thủy lục
Tranh thủy lục trong một ngôi chùa ở Hàn Quốc

Tranh thủy lục dùng ở thường đường có tượng Phật, tượng kinh điển, tượng Bồ Tát, tượng Duyên giác, tượng Thanh văn, tượng tổ sư của các tông phái, tượng người tiên cổ Ấn Độ, tượng minh chủ, tượng quỷ thần Hộ pháp và các tượng lớn khác.

Tranh thủy lục dùng ở hạ đường có tượng chư thiên, tượng Sơn thần, Thủy thần, tượng thần tiên Nho sỹ, các tượng thần thiện ác, tượng Atula, Diêm La Vương và quỷ tốt, tượng địa ngục, tượng súc sinh, tượng chúng sinh đang ở giai đoạn Trung ấm, tượng thổ địa thành hoàng. Nhưng trong tranh thủy lục ở hạ đường thường có các vị thần trong Đạo giáo.

Bút pháp của mỗi bức tượng không cố định, nhân vật có thể phân hay hợp, nhiều hay ít, nhưng cách vẽ mỗi bức đều có quy củ nhất định, giữ nguyên phong cách của thời Đường, Tống.

Phật bản mệnh

Tượng Phật cổ: tạo tượng bùn thiện nghiệp

Đời Đường lưu hành một loại tượng Phật điêu khắc nổi dùng khuôn nhỏ ép bùn. Tương truyền, sau khi thi thể của bậc cao tăng đại đức hỏa táng, dùng tro xương và bùn ép thành, sau lưng tượng luôn khắc chữ “Đại Đường thiện nghiệp nê áp đắc chân như diệu sắc thân”. Do đó, người đời sau gọi loại tượng Phật này là “tượng bùn thiện nghiệp”.

Tượng bùn thiện nghiệp thời Đường có kích cỡ to nhỏ khác nhau, kiểu dáng có hình chữ nhật, vuông, bán nguyệt như am thờ Phật. Đề tài có tạo tượng thiền định, tượng Phật thuyết pháp, tượng Phật ngồi, Phật đứng, tượng xá lợi, tượng Bồ Tát Địa Tạng, tượng Bồ Tát Quán Thế Âm và nhiều loại tháp Phật. Vì dùng khuôn ép thành, nên độ nét trên bề mặt không hoàn toàn giống nhau. Trong các văn vật khai quật được thì tượng bùn thời Đường có số lượng nhiều nhất, bề mặt rõ nét, nhưng ít ghi niên hiệu và tâm nguyện.

Thực ra, tượng Phật loại này đã xuất hiện ở thời Bắc Ngụy và Tây Ngụy tiếp tục lưu hành, nhưng kích thước to hơn thời Đường, khoảng 12cm. Hình thức chỉ có tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi. Đỉnh đầu có thịt nhô lên như búi tóc, tướng mặt thanh tú, khoác áo choàng, nếp gấp trên áo tự nhiên, mềm mại, ngồi xếp bằng trong am thờ hình vòng cung. Đến nay được biết tượng bùn sớm nhất là tượng Tam Phật do Hỗ Trinh Hưng chế tác năm thứ 8 niên hiệu Đại Thống, thời Tây Ngụy (542). Ở mộ Độc Cô Tín, Trương Để Loan thuộc Hàm Dương cũng khai quật được 1 pho tượng bùn thiện nghiệp.

Tượng bùn thiện nghiệp là một loại tượng sử dụng chất liệu bùn để chế tác, không dễ bảo tồn, ban đầu loại hình này chưa nhận được sự coi trọng từ phương diện văn hóa học. Giữa thời Thanh, do phát hiện di chỉ kim thạch (bia ký bằng vàng hoặc đá), tất cả văn vật khai quật khắc chữ ghi năm đều được coi trọng của các nhà khảo cổ học. Năm 19 niên hiệu Đạo Quang thời Thanh (1839), Lưu Yến Diên tìm được tượng bùn thiện nghiệp tại chùa Từ Ân, Tây An, sau được Bào Xương Yến dùng hình thức bản giập ghi chép trong Kim thạch tiết. Đây là tài liệu ghi chép sớm nhất về tượng bùn thiện nghiệp. Sau đó, có nhiều thư tịch khác ghi chép về tượng bùn thiện nghiệp. Đại Thôn Tây Nhai- người Nhật trong phần điêu khắc của Lịch sử mỹ thuật Trung Quốc cũng ghi chép nhiều về tượng bùn thiện nghiệp thời Đường.

Do tượng bùn thiện nghiệp được sự coi trọng của các học gia khảo cổ. Do đó, thời Thanh và thời kỳ Dân quốc có tác phẩm mô phỏng, có tượng Phật thật và giả. Đương nhiên cũng có tượng bùn, tượng khắc mô phỏng theo.

Phật bản mệnh

Tượng Phật bằng đồng dát vàng

Tượng Phật bằng đồng dát vàng là một hình thức tạo tượng ra đời và phát triển nhanh ở thời kỳ Ngụy, Tấn Nam Bắc triều. Hình thức điêu khắc tượng Phật bằng đồng dát vàng tức là dùng đồng và đồng xanh để đúc, trên bề mặt dát vàng.

Tượng Phật bằng đồng dát vàng phần lớn được cung phụng trong gia đình, hoàng cung và chùa viện Phật giáo, thời kỳ đầu được gọi là “kim nhân”, sau được gọi là “kim lễ đồng tượng”.

tượng Phật bằng Đồng Trung Quốc
Tượng Phật bằng Đồng của Trung Quốc (thế kỷ 19)

Tượng Phật bằng đồng dát vàng có kích cỡ và hình dáng đa dạng. Có loại cao vài mét, cũng có loại nhỏ tới mức có thể cầm tay. Tương truyền, tượng Phật loại này xuất hiện đầu tiên trong lịch sử vào năm thứ 10 thời Đông Hán, do một người tên Thái Âm phụng mệnh Hán Minh Đế đến nước Nguyệt Chi thỉnh về một bức tượng Phật bằng đồng dát vàng.

Tượng Phật bằng đồng cổ nhất hiện được phát hiện và bảo tồn là một tác phẩm có niên đại 1600-1700 năm. Do đó, có thể thấy rằng, thời kỳ 16 nước, Tam quốc, Lưỡng Tấn là giai đoạn phát triển đỉnh cao của tạo tượng Phật bằng đồng dát vàng Trung Quốc. Sau thời Đường, loại tượng này dần dần suy yếu, đến thời Nguyên, Minh, Thanh do sự hưng thịnh của Phật giáo Tạng truyền, tạo tượng đồng dát vàng lần nữa được lưu hành và phát triển.

Có hai hình thức tạo tượng Phật là Hán và Tạng, tạo tượng Phật kiểu Hán có đặc trưng rõ nét, tư thế đoan trang, mang đậm thi vị cuộc sống, tả thực những hỷ, lộ, ai, lạc của thế tục thời đó. Tượng đồng dát vàng Tạng truyền có tạo hình phong phú, độc đáo, trình độ tinh xảo, hình tượng sinh động. Vì phải phù hợp với quy cách tạo tượng của Phật giáo Tạng truyền nên hình thành phong cách tạo tượng khác với Phật giáo Hán truyền. Trong đó, tạo tượng kiểu cung đình trong những năm niên hiệu Vĩnh Lạc và Tuyên Đức thời Minh- tượng Phật đồng dát vàng kiểu Vĩnh, Tuyên đại diện cho trình độ đỉnh cao của tạo tượng đồng dát vàng hai thời Minh và Thanh.

tượng Phật bằng đồng Nepal
Tượng Phật bằng Đồng của Nepal

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Các quy cách tạo tượng Phật

Có hai loại: một loại là tượng Phật loại nhỏ, có tượng Phật bằng đồng cao mười mấy centimet, tiện để những tín đồ Phật giáo mang theo trong nhiều hoạt động và cúng dường trong các gia đình. Loại khác là tượng Phật loại nhẹ, tiện để di chuyển, những tượng Phật có kích cỡ cao to, điển hình là tạo tượng Phật bằng vải “gai bả sơn”.

Bắt đầu từ thời Đông Tấn, các tín đồ mở rộng sự ảnh hưởng của Phật giáo, thường dùng xe hoặc người nâng tượng Phật cử hành nghi thức rước tượng Phật. Nhu cầu xã hội này yêu cầu tạo ra một loại tượng Phật có hình tượng sinh động, thân tượng cao to, trọng lượng nhẹ, tránh được tác động của khí hậu, thời gian, tiện di chuyển. Tương truyền, nghệ nhân tạc tượng, họa sỹ thời Đông Tấn là Đới Quy có trình độ tạo tượng bằng vải gai bả sơn thành thục, tạo ra 5 bức tượng cho chùa Ngõa Quan ở Kiến Khang. Hình tượng sinh động, thuận lợi cho nghi thức rước tượng, được sự tán thưởng của người dân thời đó. Đới Quy còn đề trên bức tượng: “tự tay làm ra 5 bức tượng vải gai bả sơn, sinh động vô cùng thể hiền lòng thành kính”.

tượng Quan Âm thời Minh
tượng Quan Âm thời Minh

Lương thư, Phảm uyển chu lâm, Lịch đại danh họa ký đều có ghi chép về công trình tượng Phật này. Thời Đông Tấn cũng dùng quy cách đó để tạo tượng Phật. Từ một chiếc khuôn có thể tạo nhiều tượng Phật khác nhau, giải quyết vấn đề khó khăn trong việc quy phạm hóa tạo tượng Phật. Giá trị tượng Phật loại này thấp hơn so với tượng bằng đồng, nhưng cũng có vị trí nhất định trong các loại hình tạo tượng Phật. Lương Giản Văn Đế thời Nam triều còn tự mình soạn Mô phỏng trượng bát giáp trữ tất kim bạc tượng sơ. Có thể thấy, tượng vải gai bả sơn không phải công nghệ tạo tượng đơn giản hóa. Tạo tượng loại này ở thời Đường gọi là “Bình tất tượng”, “Thoát không tượng”, “Thoát thai tượng”, từng bước phát triển thành thục. Đường thư- Võ hậu bản ký ghi chép: “4 năm làm minh đường, Mệnh Hoài Nghĩa tạo ra tượng lớn vải gai bả sơn, giữa ngón út chứa hơn 10  người”, có thể thấy tạo tượng loại này ở thời Đường đã phát triển đến trình độ đỉnh cao.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Nghệ thuật tạo bia tượng Phật

Tạo bia tượng Phật là hình thức tạo tượng khắc đá Phật giáo lưu truyền ở thời Bắc triều. Thời kỳ kiến trúc chùa hang đá đặc biệt thịnh hành.

bia tượng Phật
Bia tượng Phật ở Trung Quốc

Các tín đồ Phật giáo trung thành dựa vào nghệ thuật khắc bia truyền thống của Trung Quốc khắc am thờ tạo tượng trên bia đá. Đề tài và phong cách tạo tượng tương đồng chùa hang đá cùng thời kỳ. Vì tạo bia tượng là tác phẩm điêu khắc nổi có độ sâu, nông nhất định, kích thước nhỏ, nên ở chính diện của thân bia hoặc ở 2 mặt, 4 mặt đều dùng hình thức phù điêu, khắc am thờ tượng Phật để cầu may mắn và bố thí công đức. Dưới bia tượng còn khắc nguyên nhân tạo tượng, tên tuổi, quê quán, chức vụ của người tạo tượng, có khi còn khắc tượng người cúng dường (khắc đường). Hình thức bia tượng Phật phong phú, cho nên khó có thể tìm ra 2 tấm hoàn toàn giống nhau.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Nghệ thuật tạo tượng Phật khắc đá

Tạo tượng Phật khắc đá là một loại hình nghệ thuật điêu khắc đề tài Phật giáo thời cổ đại, phần lớn là tượng điêu khắc Phật, chùa miếu riêng lẻ.

Nam Bắc Triều, Tùy, Đường là thời kỳ thịnh vượng nhất của nghệ thuật tạo tượng khắc đá, tạo nên những tác phẩm tượng Phật có giá trị điển hình nhất. Do trong lịch sử có một số hoàng đế chủ trương diệt Phật, thiêu hủy kinh sách, có lượng lớn tượng Phật khắc đá bị phá hủy. Như năm 1966, trong di chỉ chùa Long Hưng thuộc Châu Thanh, Sơn Đông phát hiện hơn 400 tượng Phật được cất giấu. Khi các hoàng đế cổ đại diệt Phật, cao tăng và tín đồ Phật giáo thu thập tượng còn sót lại đem giấu kỹ.

tượng Phật khắc đá 3000 năm
tượng Phật khắc đá 3000 năm tìm thấy ở Trung Quốc

Cũng có nhiều kiến trúc chùa viện vì trong thời gian dài không được tu tạo đã bị phá hủy, tượng Phật nặn bùn, điêu khắc gỗ không thể bảo tồn, chỉ còn tượng Phật khắc đá. Trong đó, không ít các tác phẩm tượng Phật khắc đá tinh xảo, đặc biệt tượng Phật khắc thời gian tên nghệ nhân chế tác có giá trị nghệ thuật và văn vật cao.

Phật bản mệnh