Nghệ thuật tạo tượng Bồ Tát

Tượng Bồ Tát Văn Thù thư thái

Tượng Bồ Tát phần lớn điêu khắc thành đầu đội bảo quan, búi tóc cao, để lộ thân trên hoặc choàng khăn, cổ đeo chuỗi ngọc hoặc trang sức hình hai con rắn, dưới mặc váy rộng kiểu ruột dê…

Ý nghĩa Bồ Tát

Bồ Tát dịch âm từ tiếng Phạn, gọi tắt là Bồ Đề Tát Đỏa, dịch ý là “Giác hữu tình”, “đạo tâm chúng sinh”. Thời cổ đại còn dịch là Cao Sỹ, Khai Sỹ, Đại Sỹ, Thánh Sỹ, Vô Song, Đại Thánh, Pháp Thần. Bồ Tát vốn là danh hiệu khi Thích Ca Mâu Ni tu hành chưa thành Phật, về sau phổ biến dùng để gọi người thực hành giáo lý Đại thừa. Bồ Tát còn đại diện cho một loại tu hành gọi là “Bồ Tát hạnh”, giáo nghĩa dùng Phật quả làm mục đích, gọi là Bồ Tát Thừa. Đây là một quả vị chỉ đứng sau Phật Đà, tương đương với Thanh văn, Duyên giác, hay còn gọi là “Tam thừa”.

Tượng Quan Âm Bồ Tát
Tượng Quan Âm Bồ Tát

Bát đại Bồ Tát và Tứ Đại Bồ Tát

Trong chùa viện Phật giáo, Bồ Tát thường được các tín đồ cung phụng có Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Địa Tạng, Hư Không Tạng, Đại Thế Chí, Trừ Cái Chướng, Di Lặc. Đó là bát đại Bồ Tát thường được đề cập đến trong kinh Phật.

Bồ Tát có thân phận đặc thù là “thượng cầu bồ đề, hạ hóa hữu tình”, có nhân duyên lớn đối với chúng sinh, dùng đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn. Do đó, từ sau thời Đường, Bồ Tát dùng lực lượng giáo hóa tính mục đích, giành được sự tín ngưỡng độc lập của nhiều tín đồ. Đặc biệt là Quán Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, Bồ Tát Địa Tạng ở Trung Quốc đều có đại tràng riêng, được phong là “Tứ đại Bồ Tát” của Phật giáo Trung Quốc. Trong Tứ đại Bồ Tát, tín ngưỡng Bồ Tát Quán Âm là phổ biến nhất.

Lịch sử nghệ thuật tạo tượng Bồ Tát

Từ thời Nam Bắc triều, tượng Bồ Tát trong hang đá phần lớn là tượng ngồi đan chéo chân hoặc tượng tư duy xếp bằng một bên, sau thế kỷ VII ít lưu hành hơn. Tượng Bồ Tát phần lớn điêu khắc thành đầu đội bảo quan, búi tóc cao, để lộ thân trên hoặc choàng khăn, cổ đeo chuỗi ngọc hoặc trang sức hình hai con rắn, dưới mặc váy rộng kiểu ruột dê. Đường vân áo biểu tượng phương pháp điêu khắc đường nổi theo phong cách Gandhara và đường khắc mờ kiểu truyền thống thời Hán. Bồ Tát thị giả của am tượng Phật trên hang thứ 11 tại hang đá Vân Cương, thời Bắc Ngụy; tượng Bồ Tát đứng ở mặt phía Đông cửa thông ánh sáng hang thứ 13 và hai tượng Bồ Tát thời Tây Ngụy ở hang 121 núi Mạch Tích mang đặc điểm nổi bật.

Tượng Quan Âm đứng
Tượng Quan Âm đứng

Sau thời Tùy, Đường, tượng Bồ Tát Quán Âm cầm cành sen và bình cam lộ xuất hiện nhiều, đồng thời xuất hiện Quán Âm 11 mặt, Quán Âm nhiều tay, khuôn mặt đầy đặn, tóc búi cao hình xoắn ốc, cổ đeo chuỗi ngọc cầu kỳ, ngồi trên tòa hoa sen. Đường nét nổi bật và trang sức hoa lệ, hình tượng mỹ miều, cử động nhẹ nhàng, là phong cách mỹ nhân điển hình thời đường. Như tượng Bồ Tát ở chùa Tiềm Khê hang đá Long Môn đầu thời Đường và Bồ Tát ở hang 45,322 Mạc Cao, Đôn Hoàng; Bồ Tát nặn màu bằng bùn thời Liêu ở chùa Hạ Hoa Nghiêm, Đại Đồng mang phong cách thời Đường, đều là những tác phẩm quan trọng về nghệ thuật tạo tượng Bồ Tát.

Tượng Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi
Tượng Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi
Tượng Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử
Tượng Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử

Shoptuongphat.com

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *