Tượng Phật kiểu Gupta Ấn Độ

Đầu thế kỷ IV TCN, Ma Kiệt Đà Ấn Độ cổ có triều đại Gupta. Đến đời thứ 2 (380-414), vương triều Gupta phát triển tới giai đoạn cường thịnh, lãnh thổ bao gồm lưu vực sông Hằng, một bộ phận của Trung Ấn Độ và Punjab. Đồng thời cũng là vương triều hoằng dương Phật giáo Ấn Độ. Do là vương triều người Ấn Độ cổ xây dựng, cho nên họ không bằng lòng với kiểu tượng Phật Gandhara mang phong cách ngoại lai. Trên cơ sở kết hợp ưu điểm của nghệ thuật Gandhara, vừa tham khảo giáo lý Phật giáo Đại thừa. Hình thành phong cách tạo tượng Phật giáo Ấn Độ mang phong cách mới, người đời sau gọi là tượng Phật kiểu Gupta.

Theo tổng kết của các chuyên gia, tượng Phật kiểu Gupta có các đặc trưng sau:

Tay, chân: ngón tay tròn thon dài. Giữa ngón tay có màng. Hai bên trái phải của cổ tay có tấm áo rủ xuống. Tay, chân của tượng Bồ Tát có vòng tay, vòng chân.

Y phục: Y phục chất liệu mỏng, quấn kín người. Nếp nhăn ở y phục dường như không có, chỉ có phần gấu và viền cổ hơi nhô lên. Đường nét không khắc sâu như kiểu Gandhara mà là những đường vân mềm mại.

Vầng hào quang sau lưng: Thường điêu khắc bằng các hình tượng hoa sen, dây leo… một cách tinh xảo.

Tòa Phật: Mới đầu là tòa vuông, sau dần dần hình thành tòa sen.

Tượng Phật chùa hang đá 1
Tượng Phật ở hang đá Vân Cương, Thiểm Tây, Trung Quốc.

Nghệ thuật đục đá khắc hang đá Vân Cương Trung Quốc xứng đáng là những tuyệt tác mang phong cách đặc trưng tạo tượng của vương triều Gupta. Theo văn hiến ghi chép, không những mô phỏng theo quy cách tạo tượng Ấn Độ mà còn do các Phạn tăng tự mình tham gia tu tạo. Nghệ thuật tạo tượng Vân Cương thời kỳ đầu đặc biệt là tượng Thiên Phật hiền kiếp trên vách tường phần lớn mang tư thái điêu khắc kiểu Gandhara. Đó là do nghệ thuật Phật giáo triều đại Gupta hình thành trên cơ sở của nghệ thuật Phật giáo kiểu Gandhara. Nghệ thuật tạo tượng Phật thời kỳ đầu và giữa ở Vân Cương trong phương pháp điêu khắc y phục, trang sức, hoa sen ở giữa vầng hào quang sau lưng, hình vân trang trí xung quanh bảo quan của Bồ Tát, Dạ xoa dưới chân Thiên vương… đều mang dáng dấp kiểu Gupta.

Phật bản mệnh

shoptuongphat.com

Tượng Phật kiểu Mathura

Người Đại Nguyệt Chi sau khi dựng nước ở Gandhara, đã mở rộng lãnh thổ về phía Nam, chiếm cứ khu vực Mathura ở thượng du lưu vực sông Ấn Độ và sông Hằng. Thời kỳ đầu, nghệ thuật tạo tượng Phật kiểu Mathura phát triển trên nền tảng của điêu khắc, nặn tượng Ấn Độ cổ. Đặc trưng là tướng mặt tròn, thân thể tráng kiện, thể hiện phong cách của dân tộc Ấn Độ. Thời đại Gupta, nghệ thuật điêu khắc, nặn tượng Phật giáo kiểu Mathura được cách tân và nâng cao.

tượng Phật Marutha
tượng Phật Marutha

Điêu khắc lan can của tháp A Ma La Bà Đề ở Nam Ấn Độ được xây dựng vào thế kỷ II TCN cũng là hình tượng Phật Đà. Tượng cổ Phật Đà khai quật ở Mathura là tác phẩm của thời đại này. Tạo tượng có thân thể hùng vĩ, lông mày dài, sống mũi cao, môi vểnh ngược lên, tai to, không đeo khuyên, tóc mai kiểu xoắn ốc cao. Tượng Phật kiểu Mathura có một số hình thái, thủ pháp và sự khác biệt với phong cách Gandhara, chứng tỏ sự đặc sắc trong nghệ thuật tạo tượng của dân tộc Ấn Độ ngày càng nâng cao.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Tượng Phật kiểu Gandhara

Tại khu vực Gandhara phát hiện một di chỉ khảo cổ dùng tỷ lệ cơ thể người Hy Lạp cổ đại để tạo tượng Phật, còn gọi là kiểu Ấn Độ Hy Lạp hoặc Ấn Độ La Mã. Đây là di tích văn hóa của đế quốc Kushan. Đế quốc Kushan được thành lập từ bộ lạc Đại Nguyệt Chi sinh sống ở một dải núi Đôn Hoàng, Kỳ Liên ở phía Tây Trung Quốc vào trung kỳ thế kỷ I trước Công nguyên xây. Đời thứ ba vua Ca Sắc Nhị vương (Kanishka) (khoảng 120-162) biên giới của đế quốc Kushan, phía Tây từ Hàm Hải phía Đông đến Song Linh, trở thành đế quốc lớn nhất ở Tiểu Á.

tượng phật gandhara
Tượng đầu Phật, điêu khắc theo phong cách Gandhara
tượng Phật gandhara
tượng Phật gandhara

Theo phong cách Gandhara, thể cách của tượng Phật, tượng Bồ Tát toát lên khí chất hùng vĩ, tráng kiện như người châu Âu. Tướng mạo giống người Hy Lạp, nhưng cũng ít nhiều mang phong cách Ấn Độ. Các chuyên gia tổng kết đặc trưng của tượng Phật kiểu Gandhara như sau:

Tướng mặt: Trán rộng, mũi cao bằng với phần trán, mắt to, môi mỏng, cằm dưới rộng nhô ra, tóc búi, dạng sóng hoặc xoắn ốc, giữa hai bên lông mày có lông trắng.

Bàn tay, bàn chân: khắc hình bánh xe 1.000 nan hoa.

Y phục: cảm giác nhẹ nhàng, có thể biểu hiện chất liệu vải của vùng nhiệt đới. Đường nét mạnh mẽ.

Vầng hào quang sau lưng: Hình đĩa tròn, thường không trang trí thêm các họa tiết khác. Nhưng cũng có kiểu xung quanh đĩa tròn khắc hình tròn nhỏ hoặc hình răng cưa liên hoàn hoặc giữa đĩa tròn điêu khắc thành hoa văn.

Tham khảo: ý nghĩa vầng hào quang trên đầu và sau lưng tượng Phật

Hình tướng tổng thể: có tượng đứng, tượng ngồi, tượng tựa, tượng nằm. Tượng bản tôn phần lớn là ngồi, còn tượng Bồ Tát, thị giả, Hộ pháp đều là tượng đứng. Tượng ngồi có ngồi xếp bằng cả hai chân, ngồi xếp bằng một bên. Ngoài ra, còn có ngồi xổm, quỳ vừa, quỳ thấp.

Tham khảo: các tư thế của tượng Phật

Tòa Phật: Phần lớn là tòa vuông, dường như không có tòa hoa sen. Thành bên thường khắc sư tử hoặc người cúng dường lễ bái hoa sen.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Nghệ thuật tạo tượng Phật hưng khởi khi nào?

Nghệ thuật tạo tượng Phật hưng khởi từ vương triều Khổng Tước, nước Ma Kiệt Đà, A Dục Vương tức A Du Ca Vương (khoảng 272-232 TCN), sau khi kế thừa vương vị, đã không ngừng kết nối bang giao với các nước láng giềng. Hình thành đế quốc thống nhất có diện tích lãnh thổ rộng lớn trong lịch sử Ấn Độ- vương triều Khổng Tước, nước Ma Kiệt Đà. Thời điểm này tương đương với sau thời kỳ Chiến quốc của Trung Quốc.

Để hoằng dương Phật giáo, A Dục Vương chiêu mộ thợ điêu khắc từ Iran (Ba Tư) và thợ mộc Ấn Độ, cùng sáng tạo ra trụ đá khắc giáo nghĩa Phật giáo, gọi là trụ đá A Dục Vương. Trụ đá A Dục Vương nặng 50 tấn, cao trên 15m. Đầu trụ điêu khắc hình tượng sư tử, voi, trâu, ngựa, luân bảo, trang nghiêm hoa lệ, tái hiện phong cách và giá trị đặc trưng của nghệ thuật cổ đại.

Tham khảo: Nghệ thuật tạo tượng Phật trong chùa hang đá

Tương truyền thời đại A Dục Vương có 84.000 tòa tháp, để lưu giữ xá lợi Phật. Ngoài tháp có lan can bằng đá bao quanh, được trang trí bằng hình điêu khắc. Trong đó, tháp lớn Tang Kỳ bảo tồn tốt nhất, trên bia tường lớn của 4 tòa bốn phía điêu khắc tượng Phật A Di Đà và câu chuyện bản sinh. Nhưng không dùng hình tượng của ngài để biểu hiện mà dùng vật tượng trưng như tòa Phật, tóc Phật, các loại thủ ấn của Phật và cây Bồ đề để thay thế. Tức là biểu hiện bối cảnh Phật thuyết pháp, cũng chỉ có người nghe pháp ngồi xung quanh, trước sau, trái phải, ở giữa chỉ có 1 tòa vuông. Đây là hình thức tượng Phật sớm nhất ở Ấn Độ cổ.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Hình tượng Phật trong các đề tài nghệ thuật thường gặp

Trong nghệ thuật tạo tượng Phật, nghệ thuật hội họa, điêu khắc… của Phật giáo, có rất nhiều đề tài nghệ thuật được các nghệ nhân chế tác đưa vào các sản phẩm…

Tạo tượng Phật qua các câu chuyện Phật truyền

Còn gọi là Phật truyện đồ, đó là bức tranh vẽ cuộc đời giáo hóa chúng sinh của Phật Thích Ca Mâu Ni. Nhiều bức miêu tả trọn vẹn hành trình xuất gia, ngộ đạo và thành Phật của ngài hoặc chọn một sự tích, như bức tranh đức Phật thuyết Pháp. Trong chùa hang đá thường dùng hình thức phù điêu khắc họa cuộc đời của Phật Thích Ca Mâu Ni. Dựa vào các kinh điển như Thái tử thụy ứng bản khởi kinh, Tu hành bản khởi kinh, Phật bản hành tập kinh, quy nạp thành “Bát tướng Thích Ca” tức: Nhập thai, giáng sinh, chu du, xuất gia, tu đạo, giáng phục ma quân, sơ chuyển pháp luân, nhập diệt.

Tượng Phật chùa hang đá

Những câu chuyện bản sinh thường thấy như:

  • Tiên nhân Bố Phát Yểm Ni được Phật Nhiên Đăng thụ ký.
  • Bồ Tát thuyết pháp ở cung Đao lợi.
  • Voi trắng giáng thần, nhập thai.
  • Giáng sinh từ tay phải.
  • Thiên thần nghênh đón.
  • A Tư Đà xem tướng cho thái tử.
  • Tỷ thí võ nghệ.
  • Thái tử kết hôn.
  • Ra khỏi 4 cổng thành, thái tử gặp lão, bệnh, tử và vị sa môn.
  • Đối với cuộc sống hoa lệ trong cung, thái tử không sinh lòng vui thú.
  • Rời thành, xuất gia.
  • 6 năm tu hành khổ hạnh.
  • Hàng phục yêu ma.
  • Thành đạo.
  • Phạn Thiên khuyến thỉnh Phật thuyết pháp.
  • Sơ chuyển pháp luân ở vườn Lộc Dã, độ 5 tỳ khiêu. Hàng phục Hỏa long, 3 lần độ Ca Diếp.
  • Du hóa nước Ma Kiệt Đà.
  • Quay trở lại nước Ca Tỳ La, gặp phụ vương Tịnh Phạn.
  • Trưởng giả Cấp Cô Độc cúng dường vườn cây của thái tử Kỳ Đà.
  • Bay lên cõi trời, thuyết pháp cho thân mẫu Ma Da trong 3 tháng.
  • Đề Bà Đạt Đa dùng voi điên hại Phật. Phật điều phục voi điên

Và rất nhiều câu chuyện khác…

Tham khảo: Nghệ thuật tạo tượng Phật trong chùa hang đá

Tượng Phật qua câu chuyện bản sinh

Còn gọi là “bức tranh bản sinh” dùng hình thức hội họa hoặc phù điêu biểu hiện bản sinh Phật, tức sự tích tiền thân Phật Thích Ca Mâu Ni mà các kinh điển đề cập tới. Liên quan đến kinh điển ghi chép bản sinh Phật có Lục độ tập tinh, Bồ Tát bản duyên kinh, Sinh kinh, Bồ Tát bản hạnh kinh, Đại phương tiện Phật báo ân kinh, Bồ Tát bản sinh đăng luận, Nghĩa túc kinh, Ngũ bách đệ tử tự thuyết bản ký kinh.

Câu chuyện bản sinh sử dụng cách tạo hình tổng hợp, sắp xếp lần lượt hoặc lặp lại các giai đoạn phát triển nội dung trong một bức tranh nhấn mạnh tính liên tục và tự thuật của câu chuyện. Đề tài câu chuyện bản sinh thường được chọn có:

Tát Đỏa Vương hy sinh cánh tay để cứu thương nhân. Hiền ngu kinh viết: tiền thế của Phật là Tát Đỏa Vương. Bởi vì một đoàn thương nhân đáng thương bị lạc trong thung lũng tối đen nên ngài đã dùng thảm bông quấn 2 cánh tay, bôi dầu bơ, đốt thành ngọn đuốc soi sáng. Sau 6 ngày, các thương nhân cũng thoát hiểm.

Tượng Phật với đề tài “Bản sinh thái tử Tu Đạt Na”

Thái tử Tu Đạt Na là tiền thân của Phật. Thái tử là người thích hành thiện bố thí. Ai mong cầu đều cứu giúp. Quốc vương của nước đối địch phái 8 Bà La Môn đến đòi voi. Thái tử Tu Đạt Na lại đem voi trắng 6 ngà đã nhiều lần bảo vệ đất nước bố thí cho họ. Quốc vương vô cùng tức giận, đuổi toàn bộ gia quyến của thái tử ra khỏi cung. Trên đường đi, thái tử Tu Đạt Na vẫn không ngừng bố thí, đến cả vợ con và bản thân mình cũng đem ra bố thí. Cuối cùng, quốc vương bỏ ra vô số vàng bạc chuộc cả nhà thái tử về.

Tượng Phật với đề tài “Bản sinh thái tử Tát Đỏa”

Trong Hiền ngu kinh có viết: tiền thân Phật là thái tử Tát Đỏa. Vào một ngày, thái tử đi vào rừng thấy 1 con hổ mẹ và 2 con hổ con đang chết đói. Thái tử động lòng thương đã hy sinh thân mình để cho mấy con hổ kia được một bữa no bụng.

Tượng Phật với đề tài “Bản sinh Cửu sắc lộc vương”

Đây là một câu chuyện khuyến thiện trừ ác nổi tiếng trong kinh Phật. Tiền sinh của Phật là Cửu sắc lộc. Một ngày, bên bờ sông cứu được người bị chết đuối, nhưng người đó tham lam tiền thưởng đã bẩm báo với quốc vương chỗ ở của Cửu sắc lộc, dẫn đường cho người đi bắt ngài. Sau khi bị bắt, ngài kể lại cho quốc vương câu chuyện mình đã cứu người và được trả ơn như thế nào, quốc vương cảm động liền thả ngài. Về sau người tham lam kia mắc bệnh hủi mà chết.

Tượng Phật với đề tài “Bản sinh vua thỏ”

Nói đến câu chuyện tiền thân của Phật là vua thỏ hiến mình để tiên nhân tu hành qua cơn đói. Tranh tưởng này là hình chữ nhật có tựa đề bằng chữ Hán, có thể thấy bức bích họa này có 5 tình tiết quan trọng: “đối thoại giữa vua thỏ và tiên nhân”, “vua thỏ tự nướng mình”, “tiên nhân được một bữa no nê”, “tiên nhân nằm dưới đất”, “tiên nhân thu nhặt hài cốt của vua thỏ”.

Tượng Phật với đề tài “Bản sinh Đồ Đề Ba Lợi”

Nói về câu chuyện tiền thân của Phật, tiên nhân Bồ Đề Ba Lợi tu hành trong núi, bị quốc vương chặt tay, chân, tai, mũi vẫn kiên định giữ niềm tin. Bích họa kiểu tranh vòng tròn liên hoàn, nhưng cách bức đơn lẻ như: Quốc vương vào núi, cung nữ thỉnh pháp, quốc vương chặt tay tiên nhân, quốc vương chặt chân tiên nhân, quốc vương chặt tai, mũi tiên nhân, lần lượt biểu hiện tình tiết khác nhau. Mỗi bức họa áp dụng hình tranh dài kiểu ngang.

Tượng Phật trong các câu chuyện nhân duyên Phật

Hình thức tranh liên hoàn, vẽ các câu chuyện kể về Phật Thích Ca Mâu Ni khi du hành thuyết pháp, người tín phụng Phật pháp thì được lợi lạc, người phỉ báng thì bị báo ứng.

Tượng Phật với đề tài “Độ hóa nhạc thần Càn đạt bà vương”

Khi sắp nhập diệt, vì muốn độ hóa Càn đạt bà vương đức Phật đã chọn phương pháp thi diễn đàn. Càn đạt bà vương giỏi gảy đàn không (một loại nhạc cụ cổ đại), tự cho mình giỏi nhất thiên hạ. Trong cuộc thi diễn tấu, Phật Thích Ca hai lần gảy đứt dây đàn, cuối cùng không thể phân thắng bại. Khi dây đứt hết, cây đàn cũng chỉ là đồ bỏ đi. Càn đạt bà vương cảm thụ được sự vĩ đại của Phật pháp, liền quy y Phật giáo.

Tượng Phật qua các câu chuyện biến tướng

Tướng có ý là đồ họa. Đời Đường lưu hành một hình thức văn học dùng thuyết xướng (là loại hình kết hợp hát với nói lời bạch, xen kẽ văn xuôi với văn vần) để giảng thuật câu chuyện Phật truyền, gọi là biến văn. Đồng thời cũng lưu hành dùng phương thức hội họa miêu tả câu chuyện kinh Phật gọi là biến tướng, còn gọi là cách thức kinh biến, là cách thức vẽ câu chuyện kinh Phật lên giấy lụa hoặc bích họa. Tên biến tướng xác định dựa vào tên kinh thư. Như căn cứ theo Vô lượng thọ kinh, A Di Đà kinh tuyên truyền Tịnh Độ tông gọi là Vô Lượng Thọ kinh biến, A Di Đà kinh biến hoặc Di Đà tịnh độ biến. Các loại kinh biến có rất nhiều, như Di Lặc kinh biến, Hoa nghiêm kinh biến, Phật bản sinh kinh biến. Ngoài ra, còn có thể loại không căn cứ vào kinh Phật, mà dựa vào những miêu tả về địa ngục hoằng dương thuyết luân hồi trong kinh Phật gọi là Địa ngục biến tướng. Họa gia nổi tiếng thời Đường là Ngô Đạo Tử đã từng vẽ Địa ngục biến.

Tượng Phật với đề tài “Giáng ma biến”

Trung tâm của bức tranh là Tất Đạt Đa ngồi xếp bằng trên kim cương tọa, có 1,2 Bồ Tát thị giả bên cạnh, hai bên mỗi bên còn có cây Bồ đề cao to. Nội dung câu chuyện là Tất Đạt Đa ngồi tu hành trên kim cương tọa, bầu trời trong xanh, gió thổi nhè nhẹ, rừng núi yên tĩnh, ngài tập trung tư duy, quán tưởng tam muội. Tuy ngồi thiền định nhưng lại là quyết đấu cuối cùng của sinh tử và Niết bàn, phiền não và Bồ đề. Tượng trưng cho ma vương sinh tử, phiền não, xuất hiện quanh Tất Đạt Đa. Ma vương dẫn theo chúng ma lớn nhỏ, muốn dùng sự mỹ miều của ma nữ, vũ khí của ma quân, sức uy hiếp ghê gớm, những trò lừa bịp để quấy nhiễu Tất Đạt Đa đều không thành công. Cuối cùng, ma vương đành từ bỏ ý định quấy nhiễu Phật Đà, chính là Giáng ma biến.

Tượng Phật với đề tài “Niết bàn biến tướng”

Biểu hiện nỗi đau đớn tột cùng của đệ tử trước và sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch. Do số lượng nhân vật nhiều, phần lớn dùng bích họa, hội họa, phù điêu để biểu hiện, ít thấy điêu khắc tượng tròn. Đề tài này lưu hành ở thời kỳ Bắc triều, đến thời kỳ Tùy, Đường, khu vực Trung Nguyên đã không còn lưu hành. Giữa tường phía Tây ở hang 428 Mạc Cao, Đôn Hoàng có bích họa niên đại Bắc Chu về Niết bàn biến tướng. Trong bức tranh phía sau thân Phật Thích Ca nằm nghiêng sang phải, có hai hàng tỳ khiêu đang đau khổ tột cùng, mỗi người một biểu cảm.

A Đổ Vương biết Phật phục sinh từ Niết bàn, Thích Ca giáng xuống thế gian bằng Tam đạo bảo giới, Bát vương tranh phân xá lợi cũng là câu chuyện trong Niết bàn biến tướng, bích họa chùa hang đá Tân Cương cũng có nhiều biểu hiện với sắc thái khác nhau.

Tượng Phật chùa hang đá 1
Tượng Phật ở hang đá Vân Cương, Thiểm Tây, Trung Quốc.

Tượng Phật với đề tài “Duy Ma Biến”

Duy Ma Cật là Bồ Tát, còn gọi là Duy Ma La Khiết, Tỳ Ma La Khiết, gọi tắt là Duy Ma. Phật học đại từ điển viết: Bản dịch cũ gọi là Tịnh Danh, bản dịch mới gọi là Vô Cấu Xưng. Khi Phật còn tại thế, Duy Ma Cật là vị cư sỹ ở thành Tỳ Da Ly, hóa sinh từ tịnh độ Diệu Hỷ. Ngài thường an trụ nơi thế tục, trợ duyên Thích Ca giáo hóa chúng sinh, là đại lực sỹ pháp thân. Khi Phật ở tại thành Tỳ Da Ly, nước Am Ma La, hơn 500 vị trưởng giả trong thành đến nghe Phật thuyết pháp. Ngài lại cáo ốm không đến, thực ra là muốn Phật phái các Bồ Tát, tỳ khiêu đến hỏi thăm, nhân cơ hội để đàm luận Phật pháp. Bởi trí tuệ của ngài được liệt vào bậc nhất nên không có ai dám đến, ngoài Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Căn phòng của Duy Ma Cật nhỏ bé, nhưng có thể dung nạp vô số người viếng thăm. Nơi đây, cuộc đàm thoại giữa Bồ Tát Văn Thù và Duy Ma Cật bắt đầu. Nhiều Bồ Tát, thiên nhân và vô số chúng sinh khác đến nghe cuộc đàm luận vô song giữa hai vị có trí tuệ bậc nhất. Đây là bối cảnh hình thành Duy Ma kinh.

Đề tại Duy Ma cực thịnh trong bích họa, tranh cuộn chùa Phật thời Đông Tấn, Nam triều, Tùy, Đường, Ngũ đại, Bắc Tống. Đông Tấn có Tuân Úc, Trương Mặc, Cố Khải; Nam triều có Lưu Tống Lục Thám Vi, Viên Thiến, Túc Lương Trương Tăng Diêu; thời Tùy có Triển Tử Kiền, Tôn Thương tử; thời Đường có Diêm Lập Bản, Ngô Đạo Tử, Dương Đình Quang, Phạm Quỳnh, Tôn Vị, Chu Diêu, Lưu Hành Thần; Ngũ đại có Quán Hưu; Bắc Tống có Lý Công Lân đều từng vẽ Duy Ma biến tướng. Có thể thấy trong các sách sử như Tấn thư, Trinh quan công tư họa sử, Lịch đại danh họa ký, Đồ họa kiến vấn chí, Tự tháp ký, Tuyên Hòa họa phổ. Trong ngoài hang Long Môn thời Bắc triều đều là đề tài có liên quan đến Duy Ma biến tướng, ít nhất có 129 bức.

Hình tượng Phật trong các đề tài nghệ thuật thường gặp 1
Tượng Phật ở hang Long Môn, một trong các đề tài Duy Ma Biến

Tượng Phật với phù điêu “Duy Ma biến tướng”

Thể hiện này có nhiều hình thức, có tượng phù điêu trên mái am tượng Phật. Như mặt tranh phù điêu Duy Ma biến tướng của động Tân Dương trong quần thể hang đá Long Môn, nằm ở hai bên phía trên cửa trong hang, Duy Ma bên phải, Văn Thù bên trái, giữa là bản tôn Thích Ca Mâu Ni. Sau đổi thành Duy Ma bên trái vầng hào quang sau lưng bản tôn, Văn Thù bên phải vầng hào quang sau lưng bản tôn.

Có những bức tượng trên am thờ Phật như tượng Duy Ma biến tướng, Duy Ma, Văn Thù đa phần được đặt trong trang thờ được che bằng trường kỷ. Duy Ma đầu đội long quan (kiểu mũ thời cổ đại giống hình chiếc cốc úp ngược, phía trước cao, sau nhọn), mặc trang phục rộng thùng thình có thắt đai lưng to. Nắm đuôi hươu có hình như chiếc quạt mỏng. Chân đi giày lục hợp (hình dạng như chiếc ủng thấp cổ), tư thế hoặc ngồi ngẩng mặt hoặc nửa nằm nửa ngồi, trước giường có kê một chiếc kỷ án. Đứng bên cạnh Duy Ma Cật có thị nữ, thiên nhân. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ngồi ngẩng mặt. Bên cạnh có nhiều Bồ Tát, thiên nhân và vô số chúng sinh khác.

Tượng Phật với đề tài “Hồ trang duy ma”

Thường gặp ở bích họa thời kỳ Tùy, Đường, trong hang đá Đôn Hoàng, Duy Ma biến tướng hơn 61 bức. Trong đó hang đá thời kỳ Tùy, Đường phần lớn là tranh Duy Ma biến tướng diện tích lớn, số lượng nhân vật nhiều. Như phía trên mặt phía Bắc thành phía Tây hang 420 thuộc hang Mạc Cao, Đôn Hoàng có Duy Ma biến tướng thời Tùy, Duy Ma và Văn Thù lần lượt ngồi trên đỉnh yết sơn, không tường thành, kiến trúc móng cao, bên cạnh có các tỳ khiêu.

tượng Phật hang Mạc Cao
Tượng Phật ở hang Mạc Cao, Đôn Hoàng, Cam Túc, Trung Quốc

Duy Ma thời Tùy bên mặt Bắc thành phía Tây hang 276, Văn Thù thời Tùy mặt Nam thành phía Tây là tượng đứng, không có trướng kỷ hay tỳ khiêu.

Duy Ma thời Tùy bên mặt Bắc thành phía Tây hang 276, Văn Thù thời Tùy mặt Nam thành phía Tây là tượng đứng, không có trướng kỷ hay tỳ khiêu.

Duy Ma đầu thời Đường ở mặt Nam thành Đông hang 220, ở trên giường, có trường kỷ. Văn Thù đầu thời Đường ở mặt Bắc thành Đông, trên đầu đội bảo quan, bên trái có tỳ khiêu, bên phải phía dưới có đế vương xếp hàng lễ Phật, hai hàng bảo vệ.

Duy Ma biến tướng đầu thời Đường ở thành Bắc hang 335, bối cảnh hùng vĩ, nhiều nhân vật.

Duy Ma cật thời Thịnh Đường mặt Nam thành Đông hang 103 ngồi trên giường có trường kỷ, trước giường có kỷ án, bên kỷ án có nhiều tín đồ cúng dường. Văn Thù mặt Bắc thành Đông ngồi xếp hàng, đỉnh đầu đội bảo quan, bên cạnh có các tỳ khiêu, dưới có đế vương xếp hàng lễ Phật. Duy Ma trong Duy Ma biến tướng thời Thịnh Đường tay cầm đuôi hươu, hình thái, tướng mạo, khí chất giống với hình tượng Duy Ma do Cố Khải chế tác, nhưng phong cách nghệ thuật gần với phong cách của Ngô Đạo Tử.

Tượng Phật với đề tài “Pháp hoa kinh biến”

Đề tài này vẽ câu chuyện Bồ Tát Quán Âm cứu độ chúng sinh. Hang Mạc Cao, Đôn Hoàng có hơn 40 bức bích họa Pháp hoa kinh biến. Thời kỳ Tùy, Đường, lấy Quan Thế Âm là hình tượng khắc họa chủ đạo. Trong bích họa có phạm nhân niệm danh hiệu Quán Âm và gông cùm tự rơi xuống, trước khi chịu hình phạt niệm Quán Âm, đao trượng tự nhiên gãy đứt.

Tượng Phật với đề tài “Văn Thù, Phổ Hiền biến”

Pháp hoa kinh biến là bích họa Bồ Tát khá thịnh hành thời Đường, lần lượt vẽ hai vị Bồ Tát là Văn Thù, Phổ Hiền, ngồi trên sư tử xanh, voi trắng. Xung quanh có quyến thuộc, các ngài cưỡi mây vượt qua sông núi đến tham gia pháp hội Hoa nghiêm. 2 bức bích họa dùng nghệ thuật kết cấu đối xứng, lần lượt trang trí ở hai bên tượng Phật. Sau thời Tống vẫn còn lưu hành.

Tượng Phật với đề tài “Tịnh độ phương Tây biến”

Có thể nói, đề tài Pháp hoa kinh biến là những bức tranh tuyên truyền Tịnh Độ tông Phật giáo. Thể loại này ở đầu thời Đường mới lưu hành phổ biến. Tịnh Độ tông cho rằng, tịnh độ phương Tây là thế giới Cực Lạc không có đau khổ, ưu sầu. Người tín ngưỡng Phật A Di Đà sau khi chết sẽ được vãng sinh tịnh độ phương Tây. Dùng hình thức tranh, biểu hiện trực quan khung cảnh lầu gác, cây cối, chim muông, hoa sen thất bảo, ca hát, nhảy múa của thế giới Cực Lạc, qua đó khuyến thiện con người tín ngưỡng Phật A Di Đà.

Tịnh độ phương Tây biến của hang thứ 127 trong hang đá múi Mạch Tích thời Bắc triều, nhân vật, hệ thống kiến trúc phong phú, kết cấu nghiêm ngặt, khí thế hùng vĩ. Thời kỳ Bắc Ngụy có một bức bích họa miêu tả Tịnh độ biến quy mô nhất. Đây là tác phẩm có niên đại sớm  nhất hiện còn bảo tồn ở Trung Quốc. Trên mặt tranh là cung điện trang nghiêm, dưới có đài cao, hai bên có các lầu gác và cây lớn chọc trời. Phật A Di Đà ngồi nghiêm trang trong điện đường, Đại Thế Chí, Quán Âm đứng hai bên. Hai bên ngoài điện có vài chục đệ tử La hán đứng cung kính. Trước điện đường có hai vị đánh trống, 4 người ngồi trên đất tấu nhạc, chính giữa có 2 kỹ lạc thiên nhân cúi lưng nhảy múa. Bối cảnh hoa lệ, không khí vui vẻ, thay đổi phong cách trầm buồn của câu chuyện bản sinh Phật.

Tịnh Độ tông Phật giáo lấy an lạc làm mục đích tu hành, không không rời xa việc hoằng dương giáo lý nhà Phật. Nhưng hoàn toàn khác câu chuyện Phật truyền trước kia, luôn chủ trương đời  người là tịch diệt, thế giới hư vô vốn thanh tịnh nên phải cấm dục, khổ hạnh. Do đó, bích họa Tịnh độ phương Tây biến ca ngợi cuộc sống tràn đầy an lạc, có tác dụng hoằng dương Phật giáo, lưu truyền thịnh hành ở thời Đường, trở thành tác phẩm mỹ thuật có sắc màu tươi tắn, rực rỡ. Bích họa Tịnh độ phương Tây biến trong hang 127 núi Mạch Tích có niên đại sớm hơn hang Mạc Cao. Đây đều là những tác phẩm có giá trị nghiên cứu tranh kinh biến thời kỳ sớm.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Tạo hình tư thế tay – thủ ấn của tượng Phật

Tượng Phật dùng một vài thế tay cố định biểu đạt ngụ ý đặc biệt gọi là “thủ ấn”.

Dưới đây là một số thủ ấn thường gặp:

Ấn thiền định (Dhyana-mudra): hai tay xếp lên nhau đặt trước bụng, lòng bàn tay hướng lên trên biểu thị thiền định.

Tượng Phật thủ ấn thiền định
Tượng Phật thủ ấn thiền định

Ấn thuyết pháp: tay trái đặt lên chân, tay phải dơ lên, co ngón trỏ và ngón cái thành hình tròn. Biểu thị tư thế Phật thuyết pháp, cũng chính là “tướng thuyết pháp”.

tượng Phật ấn thuyết pháp
tượng Phật ấn thuyết pháp
Ấn thuyết pháp
Ấn thuyết pháp

Ấn dữ nguyện: thường dùng trong tượng đứng, tay trái buông thõng tự nhiên xuống dưới, lòng bàn tay hướng ra ngoài gọi là “ấn Dữ nguyện”. Biểu thị có thể thỏa mãn tất thảy nguyện vọng của chúng sinh.

tượng Phật ấn dữ nguyện
tượng Phật ấn dữ nguyện

Ấn thí vô úy (Abhaya-mudra): nâng tay phải, 5 ngón tay hướng lên trước, lòng bàn tay hướng ra ngoài biểu thị có thể giải trừ khổ nạn của chúng sinh. Tượng đứng này gọi là “tượng Phật đàn hương”. Truyền thuyết kể rằng, khi Phật Đà còn trụ thế, vua Ưu Điền của Ấn Độ dựa vào thụy tướng của Phật dùng gỗ chế tác. Về sau phỏng theo hình tượng này cũng gọi là tượng Chiên Đàn.

Tượng Phất ấn thí vô úy
Tượng Phất ấn thí vô úy

Ấn Chuyển pháp luân (Dharmacakra-mudra): Tay phải duỗi bằng năm ngón. Thủ ấn Chuyển pháp luân của Phật A Di Đà là tay phải ấn lên bàn tay trái, đặt trên chân, trong bàn tay có bình quý. Tượng Phật Dược Sư là duỗi thẳng tay phải, bàn tay hướng ra ngoài, ngón trỏ và ngón cái kẹp một viên thuốc.

Ấn chuyển pháp luân
Ấn chuyển pháp luân

Ấn Hợp thập (Anjali-mudra): còn gọi là Ấn Hợp chưởng, 2 bàn tay chập làm một, 2 lòng bàn tay úp vào nhau đặt trước ngực. Đây là tư thế thường dùng của các chúng tăng biểu thị sự thành kính lễ. Trong tạo tượng người cúng dường cũng thường dùng thủ ấn này.

Tượng Phật Ấn Hợp chưởng
Tượng Phật Ấn Hợp chưởng

Tất cả tượng Phật từ hình thể, dung mạo về cơ bản là giống nhau, ít có điểm khác biệt. Do đó, phân biệt các vị Phật khác nhau chủ yếu căn cứ vào thủ ấn. Ví dụ: Phật Thích Ca Mâu Ni có sự khác biệt của tượng thuyết pháp, giáng ma, thiền định. Tay phải dơ lên, ngón trỏ và ngón cái tạo thành hình tròn, 3 ngón còn lại hơi duỗi là tướng thuyết pháp.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Các tư thế của tượng Phật

Trong nghệ thuật điêu khắc, chế tác tượng Phật, tượng Phật có tư thế đứng, ngồi, bay, trong đó tư thế quỳ phần lớn gặp ở tượng người cúng dường, bay chỉ gặp ở Phi thiên trong hàng thần Hộ pháp. Tư thế ngồi cần đặc biệt chú ý cách sử dụng còn tùy vào kiểu ngồi và thủ ấn. Ví dụ, tượng Phật có hai tư thế đứng, ngồi, nhưng ngồi hầu hết là tư thế xếp bằng hai bên, còn cần phối hợp với thủ ấn. Có các hình thức tạo tượng như tượng thiền định, tượng thuyết pháp.

tư thế tượng Phật
tư thế tượng Phật

Tượng Phật ngồi xếp bằng (gia phụ tọa)

Tượng Phật ngồi xếp bằng gọi tắt là “gia phu”, “phu” chỉ mu bàn chân, 2 chân đan chéo đặt lên 2 đùi trái, phải.

Ngồi xếp bằng là tư thế ngồi khi Phật tu hành, còn có thể phân thành xếp bằng cả hai bên và xếp bằng một bên.

Ngồi xếp bằng là tọa pháp khi Phật tu hành, có thể phân hai loại: ngồi xếp bằng hai bên và ngồi xếp bằng một bên.

Tượng Phật ngồi xếp bằng hai bên

Tượng Phật ngồi xếp bằng hai bên tức hai chân đan chéo đặt trên hai đùi trái, phải, hay còn gọi là “song bàn”. Do hai chân đan chéo, có sự phân biệt chân nào đè lên trước, do đó “song bàn” còn gọi là “giáng ma tọa”, “cát tường tọa”.

Giáng ma tọa là chân phải đè lên đùi trái trước, sau đó chân trái đè lên đùi phải, tăng nhân Thiền tông phần lớn dùng tư thế ngồi này. Khi tạo tượng, đây là tư thế ngồi của đức Phật.

Cát tường tọa là chân trái đè lên đùi phải trước, sau đó chân phải đè lên đùi trái, lòng bàn chân của hai chân ngửa lên hai đùi, Mật tông gọi là “liên hoa tọa”. Khi tạo tượng, đây là tư thế ngồi của Phật.

Tượng Phật ngồi xếp bằng một bên

Là chỉ 1 chân đè lên 1 đùi, còn gọi là “đơn bàn”, dù là chân trái đè lên đùi phải hay chân phải đè lên đùi trái đều thuộc tư thế ngồi này, Mật tông gọi là “cát tường tọa” cũng là cách ngồi của các tăng nhân. Khi tạo tượng, Phật không dùng tư thế này, chỉ dùng cho tượng Bồ Tát.

Tượng Phật ngồi dựa

Còn gọi là thiện gia phụ tọa, tư thế ngồi thẳng để 2 bắp chân duỗi xuống tự nhiên. Ngoài ra, tượng Di Lặc ngồi đan chéo chân thời kỳ đầu để hai bắp chân đan chéo nhau, cũng là tư thế ngồi dựa hay ngồi chéo chân.

Tượng Phật ngồi dựa xếp bằng một bên

Là tư thế ngồi thẳng, bắp chân trái thả xuống, bắp chân phải ngồi xếp bằng. Dùng cho tượng Bồ Tát tư duy.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Phương pháp tạo tượng Phật giáo

Thông thường là tạo tượng điêu khắc, nặn tượng hoặc hội họa. Nghệ thuật điêu khắc nặn tượng Phật có: đúc tượng, tượng đóng, điêu khắc trên gỗ, đá, tượng nặn bùn, tượng giáp trữ, tượng bùn giấy, tượng sứ, tượng nén, tượng dầu bơ. Các thể loại tranh vẽ có: bích họa, tranh trục cuộn, thêu, dệt.

Tượng đóng: dùng bản đồng mỏng gõ thành. Thời kỳ Tây Tấn bắt đầu dùng phương pháp này.

Tượng đúc: Dùng đồng đúc thành. Thời kỳ Lục triều đã có tượng đúc đồng dát vàng loại nhỏ, trình độ tinh xảo, sau vầng hào quang ở lưng hoặc trên tòa có khắc chữ.

Tượng điêu khắc: điêu khắc đá, gỗ, ngọc. Thời Bắc Ngụy đến Tùy Đường có không ít tượng điêu khắc đá còn lưu truyền, có hình tượng đơn lẻ hoặc nhiều loại trên 1 tảng đá, có hình am thờ, trên đài tọa được khắc chữ hoặc đề tên.

Tượng giáp trữ: còn gọi là tượng thoát thai. Trước tiên, dùng bùn nặn thành hình, thêm khung gỗ, quấn thêm vải gai, sau đó quét sơn, đợi đến khi sơn khô, cạo bỏ bùn đất bên trong. Đây là thể loại thịnh hành ở thời Nam triều và thời Đường.

Tượng nặn màu: dùng chất liệu bùn nặn thành. Trong hang đá chùa Bính Linh và hang đá Đôn Hoàng, Cam Túc bảo tồn không ít tượng nặn tinh xảo từ thời Lục triều đến triều Tống, phong cách nghệ thuật đa dạng.

Tượng sứ: dùng chất liệu sứ tạo thành. Có sứ 3 màu, sứ màu và sứ trơn, đặc biệt tượng 3 màu thời Đường, tượng Phật sứ trắng Đức Hóa thời Minh, Thanh nổi tiếng nhất.

Tượng thêu: dùng sợi thêu trên lụa gấm, các thời đại đều có.

Tượng dệt: còn gọi là tượng dệt lụa hoa, dùng chỉ và sợi vàng dệt thành, là tượng Phật có giá trị quý hiếm.

Tượng bùn và tượng sứ: dùng khuôn ép bùn thành tượng điêu khắc kích cỡ nhỏ. Đời Đường có tượng bùn thiện nghiệp; thời Minh, Thanh có sát sát ảnh hưởng từ Phật giáo Tạng truyền.

tượng Phật bằng Đồng Trung Quốc
Tượng Phật bằng Đồng của Trung Quốc (thế kỷ 19)
tượng Phật bằng đồng Nepal
Tượng Phật bằng Đồng của Nepal
tượng Phật ở Thái Lan
tượng Phật ở Thái Lan (thế kỷ 14)

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Nghệ thuật tranh thủy lục trong Phật giáo

Pháp hội thủy lục thời kỳ Minh, Thanh là một nghi thức tôn giáo trọng đại trong Phật giáo. Một kỳ cử hành pháp hội thủy lục ít thì 7 ngày, nhiều thì 49 ngày, khi cử hành trong điện đường treo các tranh theo đề tài tôn giáo, gọi chung là “tranh thủy lục”. Tranh thủy lục nhiều khi có thể tới 100 hoặc 120 bức, ít thì 32 hoặc 72 bức, phân thành 2 bộ phận thượng đường và hạ đường.

Tranh thủy lục
Tranh thủy lục trong một ngôi chùa ở Hàn Quốc

Tranh thủy lục dùng ở thường đường có tượng Phật, tượng kinh điển, tượng Bồ Tát, tượng Duyên giác, tượng Thanh văn, tượng tổ sư của các tông phái, tượng người tiên cổ Ấn Độ, tượng minh chủ, tượng quỷ thần Hộ pháp và các tượng lớn khác.

Tranh thủy lục dùng ở hạ đường có tượng chư thiên, tượng Sơn thần, Thủy thần, tượng thần tiên Nho sỹ, các tượng thần thiện ác, tượng Atula, Diêm La Vương và quỷ tốt, tượng địa ngục, tượng súc sinh, tượng chúng sinh đang ở giai đoạn Trung ấm, tượng thổ địa thành hoàng. Nhưng trong tranh thủy lục ở hạ đường thường có các vị thần trong Đạo giáo.

Bút pháp của mỗi bức tượng không cố định, nhân vật có thể phân hay hợp, nhiều hay ít, nhưng cách vẽ mỗi bức đều có quy củ nhất định, giữ nguyên phong cách của thời Đường, Tống.

Phật bản mệnh

Tượng Phật cổ: tạo tượng bùn thiện nghiệp

Đời Đường lưu hành một loại tượng Phật điêu khắc nổi dùng khuôn nhỏ ép bùn. Tương truyền, sau khi thi thể của bậc cao tăng đại đức hỏa táng, dùng tro xương và bùn ép thành, sau lưng tượng luôn khắc chữ “Đại Đường thiện nghiệp nê áp đắc chân như diệu sắc thân”. Do đó, người đời sau gọi loại tượng Phật này là “tượng bùn thiện nghiệp”.

Tượng bùn thiện nghiệp thời Đường có kích cỡ to nhỏ khác nhau, kiểu dáng có hình chữ nhật, vuông, bán nguyệt như am thờ Phật. Đề tài có tạo tượng thiền định, tượng Phật thuyết pháp, tượng Phật ngồi, Phật đứng, tượng xá lợi, tượng Bồ Tát Địa Tạng, tượng Bồ Tát Quán Thế Âm và nhiều loại tháp Phật. Vì dùng khuôn ép thành, nên độ nét trên bề mặt không hoàn toàn giống nhau. Trong các văn vật khai quật được thì tượng bùn thời Đường có số lượng nhiều nhất, bề mặt rõ nét, nhưng ít ghi niên hiệu và tâm nguyện.

Thực ra, tượng Phật loại này đã xuất hiện ở thời Bắc Ngụy và Tây Ngụy tiếp tục lưu hành, nhưng kích thước to hơn thời Đường, khoảng 12cm. Hình thức chỉ có tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi. Đỉnh đầu có thịt nhô lên như búi tóc, tướng mặt thanh tú, khoác áo choàng, nếp gấp trên áo tự nhiên, mềm mại, ngồi xếp bằng trong am thờ hình vòng cung. Đến nay được biết tượng bùn sớm nhất là tượng Tam Phật do Hỗ Trinh Hưng chế tác năm thứ 8 niên hiệu Đại Thống, thời Tây Ngụy (542). Ở mộ Độc Cô Tín, Trương Để Loan thuộc Hàm Dương cũng khai quật được 1 pho tượng bùn thiện nghiệp.

Tượng bùn thiện nghiệp là một loại tượng sử dụng chất liệu bùn để chế tác, không dễ bảo tồn, ban đầu loại hình này chưa nhận được sự coi trọng từ phương diện văn hóa học. Giữa thời Thanh, do phát hiện di chỉ kim thạch (bia ký bằng vàng hoặc đá), tất cả văn vật khai quật khắc chữ ghi năm đều được coi trọng của các nhà khảo cổ học. Năm 19 niên hiệu Đạo Quang thời Thanh (1839), Lưu Yến Diên tìm được tượng bùn thiện nghiệp tại chùa Từ Ân, Tây An, sau được Bào Xương Yến dùng hình thức bản giập ghi chép trong Kim thạch tiết. Đây là tài liệu ghi chép sớm nhất về tượng bùn thiện nghiệp. Sau đó, có nhiều thư tịch khác ghi chép về tượng bùn thiện nghiệp. Đại Thôn Tây Nhai- người Nhật trong phần điêu khắc của Lịch sử mỹ thuật Trung Quốc cũng ghi chép nhiều về tượng bùn thiện nghiệp thời Đường.

Do tượng bùn thiện nghiệp được sự coi trọng của các học gia khảo cổ. Do đó, thời Thanh và thời kỳ Dân quốc có tác phẩm mô phỏng, có tượng Phật thật và giả. Đương nhiên cũng có tượng bùn, tượng khắc mô phỏng theo.

Phật bản mệnh