Vật cầm của Đại Nhật Như Lai

Đại Nhật Như Lai là bản tôn, đồng thời là Phật căn bản tối thượng được Mật giáo đặc biệt cung phụng. Kinh điển căn bản là Đại nhật kinh sớ, bất luận trong Kim cương giới hay Thai tạng giới của Đông mật hay trong Sự bộ, Hành bộ của Tạng Mật, ngài đều có địa vị hiển hách. Trong Tứ bộ Mật tục của Phật giáo tạng truyền, Đại Nhật Như Lai thuộc về bộ Như Lai trong Hành bộ và Tục bộ.

Tham khảo:

Đại Nhật Như Lai, Phật bản mệnh tuổi Thân

Mặt dây chuyền Đại Nhật Như Lai

Vật cầm: Tay trái cầm hoa sen, ở chính giữa hoa có đặt chuông kim cương. Tay phải cũng cầm 1 bông hoa sen, chính giữa hoa là pháp luân, tượng trưng cho phương tiện đến từ trí tuệ.

Thủ ấn: 2 tay kết ấn Chuyển pháp luân đặt ở trước ngực. Pháp luân là sự kết hợp giữa phương tiện và trí tuệ, đồng thời đại diện cho mỗi loại Tam vị nhất thể của Phật giáo.

Tượng Đại Nhật Như Lai ở Tây Tạng, thế kỷ 16
Tượng Đại Nhật Như Lai ở Tây Tạng, thế kỷ 16

Tham khảo: hình tượng Đại Nhật Như Lai

Shoptuongphat.com

Nghi thức tu trì của Đại Nhật Như Lai

Nghi thức tu trì của Đại Nhật Như Lai tương đối phức tạp, trong đàn thành có 117 vị Phật, có vô vàn chú ngữ và thủ ấn, biến hóa khôn lường.

Tham khảo:

Đại Nhật Như Lai, Phật bản mệnh tuổi Thân

Mặt dây chuyền Đại Nhật Như Lai

NGHI THỨC TU TRÌ CỦA ĐẠI NHẬT NHƯ LAI

Mật tông trong Phật giáo Tạng truyền được phân thành Tứ bộ bao gồm: Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Vô thượng Du già bộ. Sự bộ tương đối trọng về tu trì bề ngoài, như yêu cầu về sự thanh khiết, hoàn cảnh của cúng dường, pháp khí, tự thân. Hành bộ là trong ngoài đều giống nhau, có nghĩa là luôn chú trọng tính bình đẳng đối với yêu cầu bề ngoài và tu trì trong nội tâm. Du già bộ chỉ xem trọng tu luyện nội tâm, ít yêu cầu về hoàn cảnh bên ngoài. Đến Vô thượng Du già bộ, hoàn toàn chú trọng việc tu trì nội tâm, không để ý đến hoàn cảnh bề ngoài.

Tượng Đại Nhật Như Lai ở hang Long Môn, Trung Quốc
Tượng Đại Nhật Như Lai ở hang Long Môn, Trung Quốc

Hiện nay, truyền thừa của bản tôn Mật tục trong Hành bộ tương đối hiếm thấy tiêu biểu nhất là Đại Nhật Như Lai. Nghi thức tu trì của Đại Nhật Như Lai tương đối phức tạp, trong đàn thành có 117 vị Phật, có vô vàn chú ngữ và thủ ấn, biến hóa khôn lường. Các chùa viện ở Tây Tạng khi thực hiện hoàn chỉnh một lần nghi lễ tu pháp của Đại Nhật Như Lai, ít nhất cần khoảng 5-8 tiếng. Cũng có thể do tu trì bản tôn Đại Nhật Như Lai có yêu cầu tương đối nhiều, độ khó cao, thủ ấn phức tạp nên ít được truyền thừa.

Tham khảo: hình tượng Đại Nhật Như Lai

Shoptuongphat.com

Phổ Minh Đại Nhật Như Lai

Trong Tạng Mật, Mạn đà la Kim cương giới và mạn đà la Thai tạng giới đều lấy Đại Nhật Như Lai là chủ tôn. Tuy nhiên, hình tượng và tư thế của Đại Nhật Như Lai trong 2 Mạn đà la này có những điểm khác nhau.

Tham khảo:

Đại Nhật Như Lai, Phật bản mệnh tuổi Thân

Mặt dây chuyền Đại Nhật Như Lai

PHỔ MINH ĐẠI NHẬT NHƯ LAI

Đại Nhật Như Lai, tức Phật Ma Ha Tỳ Lô Giá Na, biểu thị Phật Đà từ bi ban gia trì vô lượng ánh sáng Phật cho chúng sinh. Giống như mặt trời của dân gian, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, hiền ngu, tốt xấu, đối với vạn vật trên mặt đất đều phổ chiếu bình đẳng. Do đó, còn gọi là Phổ Minh Đại Nhật Như Lai. Ngài là bản tôn là vị Phật căn bản tối thượng mà Mật giáo cung phụng.

tượng Đại Nhật Như Lai ở Nhật Bản
Tượng Đại Nhật Như Lai bằng đồng lớn nhất thế giới trong chùa Todai-ji, Nhật Bản

Tiếng Phạn: MAHA VAIROCANA. “MAHA” chỉ to lớn, “VAIROCANA” đọc là “Tỳ Lô Giá Na” chỉ mặt trời. MAHA VAIROCANA là mặt trời phổ chiếu khắp thập phương pháp giới.

Khuôn mặt: 4 mặt đều là màu trắng, 4 mặt có nghĩa phật hướng về 4 phương diễn thuyết Phật pháp, màu trắng tượng trưng cho sự không cấu nhiễm bụi trần.

Thủ ấn: 2 tay kết ấn Thiền định, thần thái an định quan sát 4 phương.

Vật cầm: 2 tay ôm pháp luân đặt giữa rốn, biểu thị ngài diễn thuyết Phật pháp không ngừng nghỉ. Trong Phật giáo, pháp luân được ví với Phật pháp có 3 hàm ý: Diệt ác, luân hồi, viên mãn.

“Pháp luân” (tên tiếng Phạn Dharmacakra) mang ý nghĩa biểu tượng đặc trưng trong Phật pháp. Phật giáo lấy pháp luân ví với Phật pháp có 3 tầng hàm ý:

Một là phá trừ cái ác, ngụ ý Phật pháp không ngừng nghỉ, phá trừ nghiệp ác trong của thân, khẩu, ý;

Hai là xoay tròn, ngụ ý là Phật pháp được lưu truyền rộng rãi, như bánh xe quay mãi không ngừng;

Ba là viên mãn, ngũ ý Phật pháp viên mãn không có bất cứ sự thiếu khuyết, mà tròn trịa như bánh xe.

Những kinh pháp mà Phật Đà tuyên giảng trong suốt cuộc đời được phân thành 3 thời đoạn, được gọi là “Tam chuyển pháp luân”.

Trong Tạng Mật, Mạn đà la Kim cương giới và mạn đà la Thai tạng giới đều lấy Đại Nhật Như Lai là chủ tôn. Tuy nhiên, hình tượng và tư thế của Đại Nhật Như Lai trong 2 Mạn đà la này có những điểm khác nhau. Đại Nhật Như Lai của Kim cương giới ngồi xếp bằng, hiện tướng Bồ Tát, tóc dài, đầu đội bảo quan Ngũ trí, nửa thân trên trang trí vòng cổ tay, vòng cánh tay, chuỗi ngọc, tay kết ấn Trí quyền, tức ngón trỏ tay trái duỗi thẳng, bàn tay phải nắm lại, toàn thân màu trắng. Đại Nhật Như Lai của Thai tạng giới cũng ngồi xếp bằng, hiện tướng Bồ Tát, nhưng búi tóc, áo quấn quanh thân, tay kết ấn Pháp giới định, tức tay trái ở dưới, tay phải ở trên, 2 ngõn tay cái chạm vào nhau, toàn thân màu vàng (hoặc màu trắng).

Tham khảo: hình tượng Đại Nhật Như Lai

Shoptuongphat.com

Hình tượng Đại Nhật Như Lai

Đại Nhật Như Lai tên tiếng Phạn là Vairochana, dịch là Phật Ma Ha Tỳ Lô Giá Na, còn gọi là Phật Tỳ Lô Giá Na.

Tham khảo:

Đại Nhật Như Lai, Phật bản mệnh tuổi Thân

Mặt dây chuyền Đại Nhật Như Lai

ĐẠI NHẬT NHƯ LAI

Tên gọi khác: Phật Tỳ Lô Giá Na, Phổ Minh Đại Nhật Như Lai

Tên tiếng Phạn: Vairochana

Tâm chú: Om vai ro ca na hum

Kinh điển: Đại nhật kinh sớ

tượng Đại Nhật Như Lai
tượng Đại Nhật Như Lai

Đại Nhật Như Lai biểu thị Phật Đà từ bi

Đại Nhật Như Lai tên tiếng Phạn là Vairochana, dịch là Phật Ma Ha Tỳ Lô Giá Na, còn gọi là Phật Tỳ Lô Giá Na. Biểu thị Phật Đà từ bi ban cho chúng sinh sự gia trì vô lượng ánh sáng Phật. Giống như mặt trời của dân gian, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, hiền ngu, tốt xấu, đối với vạn vật trên mặt đất đều phổ chiếu bình đẳng. Ngài là bản tôn, đồng thời là Phật căn bản tối thượng được Mật giáo cung phụng. Kinh điển căn bản là Đại nhật kinh sớ. Cho dù trong Kim cương giới hay Thai tạng giới của Đông Mật hoặc trong Sự bộ, Hành bộ của Tạng Mật, ngài đều có địa vị hiển hách. Trong Tứ bộ Mật tục của Phật giáo Tạng truyền, thuộc về bộ Như Lai trong Hành bộ và Tục bộ.

Tượng Đại Nhật Như Lai ở Nhật Bản
Tượng Đại Nhật Như Lai ở Nhật Bản

Hình tượng của Đại Nhật Như Lai

Trong Phật giáo Tạng truyền, hình tượng thường thấy của Đại Nhật Như Lai là: Sắc thân màu trắng, 4 mặt 2 tay, 2 tay kết ấn Thiền định, cầm bát bảo pháp luân, thần thái khoan thai, quan sát khắp 4 phương. Ngài khoác vải choàng vai bằng lụa, có đầy đủ sự trang nghiêm, ngồi sếp bằng trên tòa hoa sen. Xung quanh pháp tòa thường là hồ nước trong vắt, ý chỉ sự thanh tịnh của Phật cảnh, hiện rõ các báu vật. Có khi, Đại Nhật Như Lai xuất hiện dưới hình tượng của chủ tôn Phật Ngũ phương: Ở giữa là Đại Nhật Như Lai, 4 mặt 2 tay, đầu đội bảo quan, thân khoác thiên y, trang sức trên người là những chuỗi ngọc quý, có đầy đủ 8 loại châu báu, 13 loại trang nghiêm, tư thế trang nghiêm ngồi trên tòa nguyệt luân hoa sen. Hoa sen và nguyệt luân tượng trưng cho phương tiện và trí tuệ. Phương tiện và trí tuệ là vũ khí sắc nhọn để đoạn diệt mê hoặc và vọng tưởng, từ đó đem các nghiệp ác chuyển thành nghiệp thiện.

Tượng Đại Nhật Như Lai ở Tây Tạng, thế kỷ 16
Tượng Đại Nhật Như Lai ở Tây Tạng, thế kỷ 16

Đại Nhật Như Lai 4 mặt đều là màu trắng, tượng trưng không cấu nhiễm bụi trần. 4 mặt mang ý nghĩa là Phật hướng về 4 phương diễn giảng Phật pháp. 2 tay kết ấn thiền định, tay ôm pháp luân đặt ở giữa rốn, ý nghĩa diễn thuyết Phật pháp không ngừng nghỉ. Phía trên bên trái là Phật Bảo Sinh màu vàng, phía trên bên phải là Phật A Di Đà màu đỏ, phía dưới bên trái là Phật Bất Động màu xanh lam, phía dưới bên phải là Phật Bất Không Thành Tựu màu xanh lục. Các ngài đều trang sức những loại trân bảo và 13 loại trang nghiêm hoàn chỉnh, an tọa trên tòa nguyệt luân hoa sen.

Tượng Đại Nhật Như Lai thế kỷ 10 ở Java, Indonesia
Tượng Đại Nhật Như Lai thế kỷ 10 ở Java, Indonesia

Shoptuongphat.com

Đại Nhật Như Lai trong Phật giáo Tạng truyền

ĐẠI NHẬT NHƯ LAI

Đại Nhật Như Lai là Phật Tỳ Lô Giá Na, nghĩa là ánh sáng mặt trời phổ chiếu khắp mọi nơi. Kinh điển căn bản của ngài là Đại nhật kinh. Bất luận trong Kim cương giới hay Thai tạng giới của Đông Mật hoặc trong Sự bộ, Hành bộ của Tạng Mật, địa vị của ngài đều hiển hách. Trong tứ bộ mật tục Phật giáo tạng truyền, thuộc về bộ Như Lai trong hành bộ và Tục bộ.

Tham khảo:

Đại Nhật Như Lai, Phật bản mệnh tuổi Thân

Mặt dây chuyền Đại Nhật Như Lai

tượng Đại Nhật Như Lai
tượng Đại Nhật Như Lai

Mật Tông trong Phật giáo Tạng truyền được phân thành Tứ bộ, bao gồm: Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Vô thượng Du già bộ. Sự bộ đề cao tu trì bề ngoài, như yêu cầu về sự thanh khiết, hoàn cảnh của cúng dường, pháp khí, tự thân. Hành bộ là trong ngoài đều giống nhau, có nghĩa là luôn chú trọng tính bình đẳng đối với yêu cầu bên ngoài và tu trì trong tâm. Du già bộ chỉ xem trọng tu tập nội tâm, ít yêu cầu về hoàn cảnh bên ngoài. Đến Vô thượng Du già bộ, hoàn toàn chú trọng việc tu trì nội tâm mà không để ý đến hoàn cảnh bên ngoài.

Tượng Đại Nhật Như Lai ở Tây Tạng, thế kỷ 16
Tượng Đại Nhật Như Lai ở Tây Tạng, thế kỷ 16

Hiện nay, truyền thừa của bản tôn Mật tục trong Hành bộ có tính tiêu biểu chính là Đại Nhật Như Lai. Nghi thức tu trì của Đại Nhật Như Lai tương đối phức tạp, trong đàn thành có 117 vị Phật, có vô vàn chú ngữ và thủ ấn, biến hóa khôn lường. Các chùa viện ở Tây Tạng thực hiện hoàn chỉnh một lần nghi lễ tu pháp của Đại Nhật Như Lai, ít nhất cần khoảng 5-8 tiếng. Cũng có thể do tu trì bản tôn Đại Nhật Như Lai có yêu cầu đặc biệt cao, độ khó tương đối lớn, thủ ấn phức tạp, dẫn đến hiện nay ít được truyền thừa.

Tượng Đại Nhật Như Lai thế kỷ thứ 8, miền Nam Thái Lan
Tượng Đại Nhật Như Lai thế kỷ thứ 8, miền Nam Thái Lan

Tham khảo: hình tượng Đại Nhật Như Lai

Shoptuongphat.com