Tượng Phật niết bàn, tượng Phật nằm

Niết bàn là từ dịch âm chữ Phạn, ý là diệt, nhập diệt, diệt độ, tịch diệt, viên tịch, bất sinh, vô vi, an lạc, giải thoát. Phật giáo cho rằng, niết bàn là trừ bỏ phiền não, nghiệp báo, bất sinh bất diệt, an lạc viên mãn, đây là cảnh giới lý tưởng nhất của tu đạo. Phật Thích Ca Mâu Ni vì giáo hóa chúng sinh mà hiện tướng thế nhân, đợi khi hoàn thành liền dời khỏi nhục thể trở về cảnh giới Niết bàn ban đầu. Dựa vào thuyết pháp trong kinh Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni Niết bàn dưới 2 cây Sa la bên sông Bạt Đề, thành Câu Thi Na của nước Mạt La.

Phật Thích Ca Niết bàn là đề tài tạo tượng kéo dài từ thời Bắc Ngụy đến thời Thanh. Trong hang đá Vân Cương và Đôn Hoàng đều có đề tài tạo tượng này. Trong đó, nổi bật nhất là tượng khắc đá ma nhai đại Niết bàn ở làng Bát Miếu, huyện An Nhạc, tỉnh Tứ Xuyên. Tượng nằm điêu khắc trên đá, đầu hướng về phía Đông, mặt hướng về phía Nam, nằm nghiêng sang phải, thân thể dài 31m, trở thành kiệt tác đứng đầu trong các tượng nằm. Thời đại cực thịnh vào những năm Khai Nguyên thuộc thời kỳ Thịnh Đường.

Hang thứ 158 thuộc hang Mạc Cao, Đôn Hoàng có tượng Phật Niết bàn thuộc Trung Đường thân dài 15,8m.

Tượng Phật nằm kích thước lớn ở chùa Ngõa Phật thuộc Hương Sơn, Bắc Kinh là tượng Phật nhập Niết bàn thời Thanh.

Tượng Phật Niết bàn trong hang 158 thuộc hang Mạc Cao, Đôn Hoàng mắt nửa nhắm nửa mở, an tường, hơi mỉm cười, vừa mang biểu cảm trầm tư, co khuỷu tay gối đầu nằm nghiêng người, tỷ lệ hình thể cân đối, trạng thái dứt hoàn toàn đau khổ, phiền não. Trên bích họa phía sau Phật nằm có hình tượng các đệ tử, tín đồ khóc lóc như bụng vỡ, đâm ngực, cắt tai để biểu thị lòng thương xót đối với Phật. Tác giả kết hợp nặn tượng màu và bích họa trong hang động phát huy hiệu quả nghệ thuật động tĩnh tương sinh, đối lập nhưng hài hòa.

Ngoài ra tượng Niết bàn thời Đường trong hang 225 nằm nghiêng sang phải, chân xếp lên nhau, biểu hiện bối cảnh Phật Thích Ca Mâu Ni từ tường, thanh tịnh lúc lâm chung.

tượng phật niết bàn

 

Shoptuongphat.com

Tượng Phật Tam thế

Trong một số bảo điện Đại Hùng của chùa viện Phật giáo và chùa hang đá, tượng Phật kiểu 3 đức Phật cùng ngồi, chỉ có thủ ấn khác nhau. Hình thức tạo tượng này phần lớn gọi là Phật Tam thế. Dựa vào giáo nghĩa Phật giáo, Phật Tam thế phân thành “Phật thụ Tam thế” và “Phật hoành Phật tam”. Thế ở đây chỉ thời gian tồn tại trong một đời của sinh mệnh liên tục luân hồi trong luật nhân quả.

Tượng Phật Tam Thế
Tượng Phật Tam Thế (Phật quá khứ-hiện tại-tương lai)

Tượng Phật thụ Tam thế

Tượng Phật thụ Tam thế phân chia dựa vào khái niệm thời gian, dùng tượng 3 đức Phật biểu thị quá khứ, hiện tại và tương lai của Phật, do đó còn được gọi là tượng Phật Tam thế. Bên trái là Phật quá khứ- Phật Nhiên Đăng, còn gọi là Phật Ca Diếp (không phải đệ tử Ca Diếp). Truyền thuyết kể rằng, ngài là thượng sư của Phật Thích Ca Mâu Ni, từng tiên đoán Thích Ca tương lai nhất định thành Phật. Ở giữa là Phật hiện tại- Thích Ca Mâu Ni. Bên phải là Phật tương lai- Phật Di Lặc. Trong kinh Phật viết rằng: ngài vốn là Bồ Tát, từ cõi trời Đẩu suất giáng sinh dưới cây Long Hoa, kế thừa Phật vị của Thích Ca Mâu Ni, nên gọi là Phật tương lai.

Tượng Phật hoành Phật Tam

Thế ở đây chỉ về không gian, về không gian phân thành Phật ở 3 thế giới khác nhau là Trung, Đông, Tây. Bên trái là Phật Dược Sư Lưu Ly Quang- giáo chủ của thế giới Tịnh Lưu Ly phương Đông, ngồi xếp bằng, tay trái cầm bát, trong bát chứa đầy cam lộ, tay phải cầm viên thuốc. Ở giữa là Phật Thích Ca Mâu Ni- giáo chủ của thế giới Sa Bà. Bên phải là Phật A Di Đà- giáo chủ của thế giới Cực Lạc phương Tây, ngồi xếp bằng, 2 tay xếp chồng lên trên, trong tay cầm 1 bông hoa sen, biểu thị tiếp dẫn chúng sinh.

Phật bản mệnh

Tượng Bồ Tát tư duy

Tượng Bồ Tát tư duy là phong cách tạo tượng trước khi Thích Ca Mâu Ni thành Phật. Sử dụng lối điêu khắc tròn biểu hiện Phật Thích Ca Mâu Ni trong câu chuyện bản sinh Phật đi tìm con đường giải thoát dưới gốc cây Bồ đề, ở Trung Quốc thịnh hành vào thời kỳ Bắc triều. Dựa vào thuyết pháp của kinh Phật, trước khi Thích Ca Mâu Ni thành Phật là Bồ Tát, do đó tạo tượng dùng quy cách Bồ Tát. Thông thường, đều dùng 1 chân duỗi xuống, 1 chân khoanh lên kiểu tư thế “ngồi tư tuy”, tướng mặt là nữ tính, tay phải tựa má, tay trái đặt trên chân, tướng mặt kiểu tuy duy viên mãn. Phục trang có một số loại, trong đó phần lớn là phong cách thời Nam triều mũ áo hoa lệ, tướng mạo thanh tú.

tượng Quan Âm thời Minh
tượng Quan Âm thời Minh

tượng bồ tát tư duy tượng bồ tát tư duy tượng bồ tát tư duy tượng bồ tát tư duy

 

Shoptuongphat.com

Tượng Phật thiền định

Tượng Phật ngồi thiền định là một trong những hình thức tạo tượng Phật Thích Ca Mâu Ni lưu hành ở trung kỳ thế kỷ II trước Công nguyên, từng đồng thời lưu hành với tượng thuyết pháp. Nhưng từ thế kỷ III trước Công nguyên, tượng Phật thiền định trở thành phong cách tạo tượng Phật chủ đạo.

Tượng Phật thủ ấn thiền định
Tượng Phật thủ ấn thiền định

Tượng Phật thiền định sớm nhất là kiểu am Phật. Phật ngồi trong am với tư thế thiền định, dưới miệng hang có 3 động, trong động có sư tử. Ngoài cửa hang là cảnh sắc núi rừng. Bên trên có cây và con khỉ ngồi thiền định, hai bên có Đế Thích Thiên và thiên nhân khác kính lễ Phật. Phật ngồi trong am có hình thể to hơn nhiều so với người ngoài am. Tạo tượng này còn gọi là am tượng Phật, trở thành hình thức thông dụng của tượng Phật chủ tôn trong Phật đường tại khu vực Tân Cương.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com