Bồ Tát trong Phật giáo Tạng truyền

Bồ Tát tên đầy đủ là Bồ Đề Tát Đỏa, tiếng Phạn là Bodhisattva, dịch nghĩa là “giác hữu tình”, “người có tâm từ bi rộng lớn”. Bồ Tát vừa là “chúng sinh giác ngộ”, lấy việc giác ngộ người khác làm hạnh nguyện tu trì.

Địa vị của Bồ Tát đứng sau Phật, là người trợ duyên Phật Đà hoằng duyên Phật pháp, cứu độ chúng sinh. Trong Phật giáo Ấn Độ cổ, Bồ Tát thường có hình tướng nam giới. Sau khi truyền vào Trung Quốc, cùng với quá trình bản địa hóa, thế tục hóa, tín ngưỡng Quán Thế Âm từ bi ngày càng đi sâu vào tâm thức dân gian chuyển hóa thành hình tượng nữ giới dịu dàng, hiền từ. Trong tạo hình Phật giáo, Bồ Tát chủ yếu mang phục sức trang điểm kiểu quý tộc Trung Quốc vô cùng lộng lẫy và tao nhã.

Tượng Quán Âm Phật giáo Ấn Độ thường là tướng Nam
Tượng Quán Âm Phật giáo Ấn Độ thường là tướng Nam

Bồ Tát thừa

Trong thứ bậc tu hành của Phật giáo, do sự khác biệt về mục tiêu theo đuổi, giá trị quan niệm, cảnh giới tư tưởng, trí tuệ kiến giải, chuẩn tắc hành vi, thông thường được phân thành 3 loại Hạ Sỹ đạo, Trung Sỹ đạo và Thượng Sỹ đạo.

Mục tiêu theo đuổi của Hạ sỹ đạo là thoát khỏi sự đau khổ trong 3 cõi ác (địa ngục, quý đói, súc sinh), hướng về cuộc sống hạnh phúc an lạc trên cõi trời; hệ thống tu đạo này là ngăn ác tu thiện, Phật giáo gọi là Nhân thiên thừa. Mục tiêu theo đuổi của Trung sỹ đạo là thoát khỏi đau khổ trong luân hồi, hướng về cõi niết bàn tràn đầy an lạc. Hệ thống tu đạo này là tu trì pháp Tứ đế khổ, tập, diệt, đạo, Phật giáo gọi là Thanh văn, Duyên giác thừa. Thượng Sỹ đạo là hệ thống tu đạo đem sự giải thoát đau khổ của tất cả chúng sinh làm mục tiêu cuối cùng là thành Phật, đây chính là Bồ Tát thừa hay còn gọi là Đại thừa.

tượng Quán Âm nghìn tay
tượng Quán Âm nghìn tay

Người thành tâm giúp đỡ tất cả chúng sinh đều là Bồ Tát

Dân gian tồn tại cách hiểu sai về nội hàm Bồ Tát: họ cho rằng, Bồ Tát là nhân vật thần tiên huyền ảo mơ hồ, đến và đi không để lại dấu vết. Trên thực tế, theo quan điểm của Phật giáo, nếu một người chân chính có lòng giúp đỡ tất cả chúng sinh xa rời đau khổ mà phát nguyện thành Phật thì đó là Bồ Tát. Như Bồ Tát Tịch Thiên của Ấn Độ nói rằng: “khi phát tâm Bồ Đề, cho dù bản thân vẫn chìm trong đau khổ của luân hồi thì đã là Phật, Bồ Tát rồi” (Nhập hành luận). Điều này chứng tỏ rằng, cho dù là một phàm nhân bình thường, nhưng sau khi sinh khởi tâm Bồ Đề chân chính cũng được gọi là Bồ Tát. Tổ sư phái Cách Lỗ – đại sư Tông Khách Ba cũng có quan điểm tương tự.

Do vậy tâm Bồ Đề là tiêu chuẩn duy nhất của danh hiệu Bồ Tát, cũng là ranh giới duy nhất của Phật giáo Đại, Tiểu thừa. Theo quan điểm Phật giáo, trong cuộc sống hiện thực, phàm là người thành tâm giúp đỡ tất cả chúng sinh đều là Bồ Tát. Bồ Tát kỳ thực chính là một danh hiệu ban cho người hy sinh quên mình, toàn tâm toàn ý lợi chúng.

Tượng Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử
Tượng Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử

Các cấp độ Bồ Tát

Tuy vậy, dựa vào cấp độ tu chứng khác nhau mà Bồ Tát cũng phân tầng lớp cấp độ. Bồ Tát nào bắt đầu từ phát tâm Bồ Đề nhập vào đạo tư lương Đại thừa, đến Thập địa Bồ Tát là cao nhất, tất cả thứ bậc này đều thuộc Bồ Tát. Đương nhiên, trong những tông phái khác nhau thì sự phân loại Bồ Tát cũng có sự khác biệt. Thông thường phân thành Tư lương đạo Bồ Tát (thượng phẩm, trung phẩm, hạ phẩm), Gia hành đạo Bồ Tát (phân thành 4 loại đệ nhất Noãn, Đỉnh, Nhẫn, Thế), Kiến Đạo Bồ Tát (Sơ Địa), Tu Đạo Bồ Tát (Sát na thứ hai của Sơ địa đến Thập địa Bồ Tát). Những danh từ trong Phật giáo đều hàm chứa triết lý và ý nghĩa sâu sắc, nếu không có kiến thức tương quan rất khó lý giải một cách hoàn bị. Ở đây liệt kê những điểm khái quát để mọi người nắm giữ được kiến thức cơ bản, muốn nghiên cứu tường tận, có thể đọc những tác phẩm Phật giáo như Hiện quán trang nghiêm luận, Thập địa kinh luận.

Một số Hóa thân của Phật Đà mang danh hiệu Bồ Tát

Còn một điểm cần chú ý, trong Phật giáo có một số vị tuy có danh hiệu Bồ Tát, nhưng thực chất họ không phải là Bồ Tát mà là hóa hiện thân phận Bồ Tát để cứu giúp chúng sinh của Phật Đà như: Di Lặc, Quán Thế Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng. Chúng ta cần nắm rõ điểm này, vì đó đều là những Hóa thân của Phật Đà mà không phải là Bồ Tát trong lý luận của Phật giáo.

Tượng Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi
Tượng Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi

Shoptuongphat tập trung giới thiệu những vị Bồ Tát quen thuộc, những Hóa thân và những câu chuyện thần kỳ về các ngài. Ví dụ, Hóa thân Bồ Tát Quán Thế Âm từ bi, trong Phật giáo Tạng truyền có rất nhiều Hóa tướng, thường gặp nhất là Quán Âm 1000 tay, Quán Âm 4 tay, Quán Thế Âm mặc váy da hổ, Quán Âm Sư Hống, Quán Âm Hồng Hải Đại Bi, Quán Âm Khởi Mục, Quán Âm Phổ Độ Ác Thú; Bồ Tát Văn Thù cũng có nhiều Hóa thân, thường gặp là Hoàng Văn Thù, Văn Thù 4 cánh tay, Bạch Văn Thù, Hắc Văn Thù, Hồng Hoàng Văn Thù, Bố Úy Kim Cương (Đại Uy Đức Kim Cương) và Hộ Pháp Diêm La. Ngoài ra, còn có Bồ Tát Địa Tạng tượng trưng cho nguyện lực, Bồ Tát Phổ Hiền tượng trưng cho đại hạnh, Bồ Tát Trừ Cái Chướng có thể tiêu trừ tất cả phiền não, Bồ Tát Hư Không Tạng có thể tăng cường trí nhớ, Bồ Tát Đại Thế Chí khi di chuyển có thể khiến cho đại địa chấn động, do vậy có thể mang lại trí tuệ cho con người.

Tượng Bồ Tát Đại Thế Chí đứng (thế kỷ 16-17)
Tượng Bồ Tát Đại Thế Chí đứng (thế kỷ 16-17)

 

Shoptuongphat.com

Nghệ thuật tạo tượng Bồ Tát trong Phật giáo Tạng truyền

Chủng loại và hình thức tạo tượng của Bồ Tát trong Phật giáo Tạng truyền nhiều hơn Phật giáo Hán truyền. Hơn nữa, các nhân vật lịch sử như Tùng Tán Can Bố, Xích Tùng Đức Tán, công chúa Văn Thành, công chúa Xích Tôn cũng liệt vào hàng các Bồ Tát, có vị trí chủ yếu được cung phụng trong chùa.

Các loại tạo hình tượng Bồ Tát

Hình tượng Bồ Tát có 2 loại:

Một loại là tướng tĩnh tịch giống như tạo tượng Bồ Tát của Phật giáo Hán truyền. Hai là tướng phẫn nộ giống như hình tượng Hộ pháp Thiên vương, Lực sỹ trong tạo tượng Phật giáo Hán truyền. Bồ Tát của Phật giáo Tạng truyền có hai loại thân: một là chính pháp luân thân, tức Báo thân chân thực do hạnh nguyện của Phật, Bồ Tát tu được, tạo hình phần lớn là biểu cảm an nhiên, từ bi, do đó gọi là tướng tịch tĩnh. Những tạo tượng có diện mạo này phần lớn là tạo tượng của Hiển giáo.

Tượng Bồ Tát Văn Thù thư thái
Tượng Bồ Tát Văn Thù thư thái

Hai là giáo lệnh luân thân là tướng uy mãnh phẫn nộ mà Phật, Bồ Tát hiển thị từ nguyện đại bi để giáng phục ma vương và tham, sân, si của chúng sinh. Hình tượng phần lớn là nhiều đầu, nhiều tay, tay cầm pháp khí, dữ dằn, mang lại cảm giác sợ hãi, do đó gọi là “tướng phẫn nộ”, “mãnh tướng”. Nghệ thuật tạo tượng hình tướng hung dữ phần lớn là tượng của Mật giáo.

Đại Uy Đức Kim Cương, hóa thân phẫn nộ của Bồ Tát Văn Thù
Đại Uy Đức Kim Cương, hóa thân phẫn nộ của Bồ Tát Văn Thù

Tạo tượng Bát đại Bồ Tát

Khi Bát đại Bồ Tát hiện chính pháp luân thân, tức Báo thân chân thực lần lượt là tướng từ bi của Bồ Tát Quán Âm (tay trái cầm hoa sen, tay phải kết ấn vô úy, mũ đội đầu có Phật A Di Đà). Bồ Tát Di Lặc (tay trái cầm bình, tay phải kết ấn vô úy, mũ đội đầu có bảo tháp). Bồ Tát Hư Không Tạng (tay trái cầm ngọc, tay phải kết ấn vô úy). Bồ Tát Phổ Hiền (tay trái cầm kiếm, tay phải kết ấn vô úy, đầu đội  mũ ngũ Phật). Bồ Tát Kim Cương Thủ (tay trái đặt ở eo, tay phải cầm chày kim cương). Bồ Tát Địa Tạng (tay trái cầm bát), Bồ Tát Trừ Cái Chướng (tay trái cầm cờ, tay phải kết ấn vô úy).

Khi Bát đại Bồ Tát hiện giáo lệnh luân thân, tức thân phẫn nộ, lần lượt là tướng uy mãnh của Mã Đầu Minh Vương, Đại Luân Minh Vương, Bộ Trịch Minh Vương, Giáng Tam Thế Minh Vương, Lục Túc Minh Vương, Vô Năng Thắng Minh Vương, Bất Động Minh Vương. Tướng phẫn nộ, khua tay múa kiếm, mang lại cảm giác sợ hãi cho con người. Kim cương đỉnh Du già kinh ghi chép: “Chư Phật, Bồ Tát dựa vào hai loại hiện thân khác nhau: một là chính pháp luân thân hiện thân chân thực từ hạnh nguyện của Phật Báo thân, Bồ Tát. Hai là giáo lệnh luân thân hiện thân phẫn nộ, từ hạnh nguyện đại bi”, chỉ hai loại Hóa thân khác nhau trong tạo tượng Phật Đà, Bồ Tát.

Trong Phật giáo Tạng truyền, tín ngưỡng hưng thịnh nhất là Quán Âm, Văn Thù, Di Lặc.

Tượng Bất Động Minh Vương
Tượng Bất Động Minh Vương thường thấy là tượng ngồi

Tượng Bồ Tát Quán Âm

Bồ Tát Quán Âm là bản tôn đại diện cho hạnh nguyện đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn trong Phật giáo, được sự tôn sùng của dân tộc Tạng. Người dân Tây Tạng không những cung phụng Quán Âm trong chùa viện, còn cho rằng các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử tộc Tạng là Hóa thân của Quán Âm như: Tùng Tán Can Bố, công chúa Văn Thành, công chúa Xích Tôn, cung phụng ở điện chính trong chùa viện.

tượng Quán Âm 3

Tượng Bồ Tát Văn Thù

Bồ Tát Văn Thù đại diện cho trí tuệ, uy mãnh. Ngài có địa vị thù thắng trong hàng Bồ Tát của Phật giáo Tạng truyền, được sự tín ngưỡng của đông đảo tín chúng. Tiêu chí nhận biết ngài là bảo kiếm và kinh sách, bảo kiếm tượng trưng cho thanh kiếm trí tuệ sắc nhọn có thể chém đứt tất cả phiền não, vô minh; kinh sách biểu thị trí tuệ Bát nhã không cấu nhiễm bụi trần.

Tượng Bồ Tát Văn Thù Phật giáo Tạng truyền
Tượng Bồ Tát Văn Thù Phật giáo Tạng truyền

Tượng Di Lặc

Di Lặc có hai loại hình tượng: một là tượng Bồ Tát, biểu hiện Bồ Tát Di Lặc lên Đẩu suất thiên thuyết pháp cho chư thiên. Hai là tượng Phật, Di Lặc mặc trang phục Phật biểu hiện hình tượng sau khi hạ sinh thành Phật. Trong các chùa viện lớn của Tây Tạng, cung thờ Phật Di Lặc có kích thước lớn. Trong tạo tượng Phật giáo tạng truyền, Phật Di Lặc còn có danh hiệu là Phật Cường Ba. Tượng đồng Phật Cường Ba trong chùa Trát Thập Luân Bố nổi tiếng cao 26,2m, là tượng Phật bằng đồng lớn nhất Trung Quốc.

Shoptuongphat.com

Tạo tượng Bát Đại Bồ Tát

Bát đại Bồ Tát có truyền thuyết khác nhau. Trong chùa viện thường có 8 vị Bồ Tát sau:

Bồ Tát Đại Thế Chí, tay cầm chày giáng ma và chuông xua đuổi tà ác, truyền bá pháp âm.

Bồ Tát Quán Thế Âm, tay cầm bình cam lộ và cành liễu, có thể cứu khổ cứu nạn chúng sinh. Khi chúng sinh gặp nạn, chỉ cần xưng niệm danh hiệu ngài tất sẽ ứng nghiệm.

Bồ Tát Văn Thù, tay cầm kinh thư và bảo kiếm biểu thị trí tuệ sắc bén, đoạn trừ phiền não và vô minh.

Bồ Tát Phổ Hiền trong tay cầm chày kim cương có thể thỏa mãn thiện nguyện của chúng sinh.

Bồ Tát Hư Không Tạng tay đỡ mặt trăng tượng trưng cho sự thanh tịnh.

Bồ Tát Trừ Cái Chướng tay đỡ mặt trời tượng trưng cho quang minh.

Bồ Tát Địa Tạng Vương tay cầm minh châu, tích trượng, có ý là “minh châu chiếu sáng mọi nơi cho đến tận cõi trời, tích tượng mở cửa địa ngục”, có thể thỏa mãn vô lượng thiện nguyện của chúng sinh.

Bồ Tát Di Lặc tay cầm pháp luân, hùng dũng tiến về phía trước, thề không lùi bước.

8 vị Bồ Tát ở trên đều có công năng riêng, hiển thị phép thần thông độ hóa hết thảy chúng sinh.

Shoptuongphat.com

Nghệ thuật tạo tượng Bồ Tát

Tượng Bồ Tát phần lớn điêu khắc thành đầu đội bảo quan, búi tóc cao, để lộ thân trên hoặc choàng khăn, cổ đeo chuỗi ngọc hoặc trang sức hình hai con rắn, dưới mặc váy rộng kiểu ruột dê…

Ý nghĩa Bồ Tát

Bồ Tát dịch âm từ tiếng Phạn, gọi tắt là Bồ Đề Tát Đỏa, dịch ý là “Giác hữu tình”, “đạo tâm chúng sinh”. Thời cổ đại còn dịch là Cao Sỹ, Khai Sỹ, Đại Sỹ, Thánh Sỹ, Vô Song, Đại Thánh, Pháp Thần. Bồ Tát vốn là danh hiệu khi Thích Ca Mâu Ni tu hành chưa thành Phật, về sau phổ biến dùng để gọi người thực hành giáo lý Đại thừa. Bồ Tát còn đại diện cho một loại tu hành gọi là “Bồ Tát hạnh”, giáo nghĩa dùng Phật quả làm mục đích, gọi là Bồ Tát Thừa. Đây là một quả vị chỉ đứng sau Phật Đà, tương đương với Thanh văn, Duyên giác, hay còn gọi là “Tam thừa”.

Tượng Quan Âm Bồ Tát
Tượng Quan Âm Bồ Tát

Bát đại Bồ Tát và Tứ Đại Bồ Tát

Trong chùa viện Phật giáo, Bồ Tát thường được các tín đồ cung phụng có Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Địa Tạng, Hư Không Tạng, Đại Thế Chí, Trừ Cái Chướng, Di Lặc. Đó là bát đại Bồ Tát thường được đề cập đến trong kinh Phật.

Bồ Tát có thân phận đặc thù là “thượng cầu bồ đề, hạ hóa hữu tình”, có nhân duyên lớn đối với chúng sinh, dùng đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn. Do đó, từ sau thời Đường, Bồ Tát dùng lực lượng giáo hóa tính mục đích, giành được sự tín ngưỡng độc lập của nhiều tín đồ. Đặc biệt là Quán Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, Bồ Tát Địa Tạng ở Trung Quốc đều có đại tràng riêng, được phong là “Tứ đại Bồ Tát” của Phật giáo Trung Quốc. Trong Tứ đại Bồ Tát, tín ngưỡng Bồ Tát Quán Âm là phổ biến nhất.

Lịch sử nghệ thuật tạo tượng Bồ Tát

Từ thời Nam Bắc triều, tượng Bồ Tát trong hang đá phần lớn là tượng ngồi đan chéo chân hoặc tượng tư duy xếp bằng một bên, sau thế kỷ VII ít lưu hành hơn. Tượng Bồ Tát phần lớn điêu khắc thành đầu đội bảo quan, búi tóc cao, để lộ thân trên hoặc choàng khăn, cổ đeo chuỗi ngọc hoặc trang sức hình hai con rắn, dưới mặc váy rộng kiểu ruột dê. Đường vân áo biểu tượng phương pháp điêu khắc đường nổi theo phong cách Gandhara và đường khắc mờ kiểu truyền thống thời Hán. Bồ Tát thị giả của am tượng Phật trên hang thứ 11 tại hang đá Vân Cương, thời Bắc Ngụy; tượng Bồ Tát đứng ở mặt phía Đông cửa thông ánh sáng hang thứ 13 và hai tượng Bồ Tát thời Tây Ngụy ở hang 121 núi Mạch Tích mang đặc điểm nổi bật.

Tượng Quan Âm đứng
Tượng Quan Âm đứng

Sau thời Tùy, Đường, tượng Bồ Tát Quán Âm cầm cành sen và bình cam lộ xuất hiện nhiều, đồng thời xuất hiện Quán Âm 11 mặt, Quán Âm nhiều tay, khuôn mặt đầy đặn, tóc búi cao hình xoắn ốc, cổ đeo chuỗi ngọc cầu kỳ, ngồi trên tòa hoa sen. Đường nét nổi bật và trang sức hoa lệ, hình tượng mỹ miều, cử động nhẹ nhàng, là phong cách mỹ nhân điển hình thời đường. Như tượng Bồ Tát ở chùa Tiềm Khê hang đá Long Môn đầu thời Đường và Bồ Tát ở hang 45,322 Mạc Cao, Đôn Hoàng; Bồ Tát nặn màu bằng bùn thời Liêu ở chùa Hạ Hoa Nghiêm, Đại Đồng mang phong cách thời Đường, đều là những tác phẩm quan trọng về nghệ thuật tạo tượng Bồ Tát.

Tượng Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi
Tượng Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi
Tượng Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử
Tượng Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử

Shoptuongphat.com