Tượng Phật niết bàn, tượng Phật nằm

Niết bàn là từ dịch âm chữ Phạn, ý là diệt, nhập diệt, diệt độ, tịch diệt, viên tịch, bất sinh, vô vi, an lạc, giải thoát. Phật giáo cho rằng, niết bàn là trừ bỏ phiền não, nghiệp báo, bất sinh bất diệt, an lạc viên mãn, đây là cảnh giới lý tưởng nhất của tu đạo. Phật Thích Ca Mâu Ni vì giáo hóa chúng sinh mà hiện tướng thế nhân, đợi khi hoàn thành liền dời khỏi nhục thể trở về cảnh giới Niết bàn ban đầu. Dựa vào thuyết pháp trong kinh Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni Niết bàn dưới 2 cây Sa la bên sông Bạt Đề, thành Câu Thi Na của nước Mạt La.

Phật Thích Ca Niết bàn là đề tài tạo tượng kéo dài từ thời Bắc Ngụy đến thời Thanh. Trong hang đá Vân Cương và Đôn Hoàng đều có đề tài tạo tượng này. Trong đó, nổi bật nhất là tượng khắc đá ma nhai đại Niết bàn ở làng Bát Miếu, huyện An Nhạc, tỉnh Tứ Xuyên. Tượng nằm điêu khắc trên đá, đầu hướng về phía Đông, mặt hướng về phía Nam, nằm nghiêng sang phải, thân thể dài 31m, trở thành kiệt tác đứng đầu trong các tượng nằm. Thời đại cực thịnh vào những năm Khai Nguyên thuộc thời kỳ Thịnh Đường.

Hang thứ 158 thuộc hang Mạc Cao, Đôn Hoàng có tượng Phật Niết bàn thuộc Trung Đường thân dài 15,8m.

Tượng Phật nằm kích thước lớn ở chùa Ngõa Phật thuộc Hương Sơn, Bắc Kinh là tượng Phật nhập Niết bàn thời Thanh.

Tượng Phật Niết bàn trong hang 158 thuộc hang Mạc Cao, Đôn Hoàng mắt nửa nhắm nửa mở, an tường, hơi mỉm cười, vừa mang biểu cảm trầm tư, co khuỷu tay gối đầu nằm nghiêng người, tỷ lệ hình thể cân đối, trạng thái dứt hoàn toàn đau khổ, phiền não. Trên bích họa phía sau Phật nằm có hình tượng các đệ tử, tín đồ khóc lóc như bụng vỡ, đâm ngực, cắt tai để biểu thị lòng thương xót đối với Phật. Tác giả kết hợp nặn tượng màu và bích họa trong hang động phát huy hiệu quả nghệ thuật động tĩnh tương sinh, đối lập nhưng hài hòa.

Ngoài ra tượng Niết bàn thời Đường trong hang 225 nằm nghiêng sang phải, chân xếp lên nhau, biểu hiện bối cảnh Phật Thích Ca Mâu Ni từ tường, thanh tịnh lúc lâm chung.

tượng phật niết bàn

 

Shoptuongphat.com

Tượng Phật Tam thế

Trong một số bảo điện Đại Hùng của chùa viện Phật giáo và chùa hang đá, tượng Phật kiểu 3 đức Phật cùng ngồi, chỉ có thủ ấn khác nhau. Hình thức tạo tượng này phần lớn gọi là Phật Tam thế. Dựa vào giáo nghĩa Phật giáo, Phật Tam thế phân thành “Phật thụ Tam thế” và “Phật hoành Phật tam”. Thế ở đây chỉ thời gian tồn tại trong một đời của sinh mệnh liên tục luân hồi trong luật nhân quả.

Tượng Phật Tam Thế
Tượng Phật Tam Thế (Phật quá khứ-hiện tại-tương lai)

Tượng Phật thụ Tam thế

Tượng Phật thụ Tam thế phân chia dựa vào khái niệm thời gian, dùng tượng 3 đức Phật biểu thị quá khứ, hiện tại và tương lai của Phật, do đó còn được gọi là tượng Phật Tam thế. Bên trái là Phật quá khứ- Phật Nhiên Đăng, còn gọi là Phật Ca Diếp (không phải đệ tử Ca Diếp). Truyền thuyết kể rằng, ngài là thượng sư của Phật Thích Ca Mâu Ni, từng tiên đoán Thích Ca tương lai nhất định thành Phật. Ở giữa là Phật hiện tại- Thích Ca Mâu Ni. Bên phải là Phật tương lai- Phật Di Lặc. Trong kinh Phật viết rằng: ngài vốn là Bồ Tát, từ cõi trời Đẩu suất giáng sinh dưới cây Long Hoa, kế thừa Phật vị của Thích Ca Mâu Ni, nên gọi là Phật tương lai.

Tượng Phật hoành Phật Tam

Thế ở đây chỉ về không gian, về không gian phân thành Phật ở 3 thế giới khác nhau là Trung, Đông, Tây. Bên trái là Phật Dược Sư Lưu Ly Quang- giáo chủ của thế giới Tịnh Lưu Ly phương Đông, ngồi xếp bằng, tay trái cầm bát, trong bát chứa đầy cam lộ, tay phải cầm viên thuốc. Ở giữa là Phật Thích Ca Mâu Ni- giáo chủ của thế giới Sa Bà. Bên phải là Phật A Di Đà- giáo chủ của thế giới Cực Lạc phương Tây, ngồi xếp bằng, 2 tay xếp chồng lên trên, trong tay cầm 1 bông hoa sen, biểu thị tiếp dẫn chúng sinh.

Phật bản mệnh

Tượng Bồ Tát tư duy

Tượng Bồ Tát tư duy là phong cách tạo tượng trước khi Thích Ca Mâu Ni thành Phật. Sử dụng lối điêu khắc tròn biểu hiện Phật Thích Ca Mâu Ni trong câu chuyện bản sinh Phật đi tìm con đường giải thoát dưới gốc cây Bồ đề, ở Trung Quốc thịnh hành vào thời kỳ Bắc triều. Dựa vào thuyết pháp của kinh Phật, trước khi Thích Ca Mâu Ni thành Phật là Bồ Tát, do đó tạo tượng dùng quy cách Bồ Tát. Thông thường, đều dùng 1 chân duỗi xuống, 1 chân khoanh lên kiểu tư thế “ngồi tư tuy”, tướng mặt là nữ tính, tay phải tựa má, tay trái đặt trên chân, tướng mặt kiểu tuy duy viên mãn. Phục trang có một số loại, trong đó phần lớn là phong cách thời Nam triều mũ áo hoa lệ, tướng mạo thanh tú.

tượng Quan Âm thời Minh
tượng Quan Âm thời Minh

tượng bồ tát tư duy tượng bồ tát tư duy tượng bồ tát tư duy tượng bồ tát tư duy

 

Shoptuongphat.com

Tượng Phật thiền định

Tượng Phật ngồi thiền định là một trong những hình thức tạo tượng Phật Thích Ca Mâu Ni lưu hành ở trung kỳ thế kỷ II trước Công nguyên, từng đồng thời lưu hành với tượng thuyết pháp. Nhưng từ thế kỷ III trước Công nguyên, tượng Phật thiền định trở thành phong cách tạo tượng Phật chủ đạo.

Tượng Phật thủ ấn thiền định
Tượng Phật thủ ấn thiền định

Tượng Phật thiền định sớm nhất là kiểu am Phật. Phật ngồi trong am với tư thế thiền định, dưới miệng hang có 3 động, trong động có sư tử. Ngoài cửa hang là cảnh sắc núi rừng. Bên trên có cây và con khỉ ngồi thiền định, hai bên có Đế Thích Thiên và thiên nhân khác kính lễ Phật. Phật ngồi trong am có hình thể to hơn nhiều so với người ngoài am. Tạo tượng này còn gọi là am tượng Phật, trở thành hình thức thông dụng của tượng Phật chủ tôn trong Phật đường tại khu vực Tân Cương.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Tượng Phật kiểu Gupta Ấn Độ

Đầu thế kỷ IV TCN, Ma Kiệt Đà Ấn Độ cổ có triều đại Gupta. Đến đời thứ 2 (380-414), vương triều Gupta phát triển tới giai đoạn cường thịnh, lãnh thổ bao gồm lưu vực sông Hằng, một bộ phận của Trung Ấn Độ và Punjab. Đồng thời cũng là vương triều hoằng dương Phật giáo Ấn Độ. Do là vương triều người Ấn Độ cổ xây dựng, cho nên họ không bằng lòng với kiểu tượng Phật Gandhara mang phong cách ngoại lai. Trên cơ sở kết hợp ưu điểm của nghệ thuật Gandhara, vừa tham khảo giáo lý Phật giáo Đại thừa. Hình thành phong cách tạo tượng Phật giáo Ấn Độ mang phong cách mới, người đời sau gọi là tượng Phật kiểu Gupta.

Theo tổng kết của các chuyên gia, tượng Phật kiểu Gupta có các đặc trưng sau:

Tay, chân: ngón tay tròn thon dài. Giữa ngón tay có màng. Hai bên trái phải của cổ tay có tấm áo rủ xuống. Tay, chân của tượng Bồ Tát có vòng tay, vòng chân.

Y phục: Y phục chất liệu mỏng, quấn kín người. Nếp nhăn ở y phục dường như không có, chỉ có phần gấu và viền cổ hơi nhô lên. Đường nét không khắc sâu như kiểu Gandhara mà là những đường vân mềm mại.

Vầng hào quang sau lưng: Thường điêu khắc bằng các hình tượng hoa sen, dây leo… một cách tinh xảo.

Tòa Phật: Mới đầu là tòa vuông, sau dần dần hình thành tòa sen.

Tượng Phật chùa hang đá 1
Tượng Phật ở hang đá Vân Cương, Thiểm Tây, Trung Quốc.

Nghệ thuật đục đá khắc hang đá Vân Cương Trung Quốc xứng đáng là những tuyệt tác mang phong cách đặc trưng tạo tượng của vương triều Gupta. Theo văn hiến ghi chép, không những mô phỏng theo quy cách tạo tượng Ấn Độ mà còn do các Phạn tăng tự mình tham gia tu tạo. Nghệ thuật tạo tượng Vân Cương thời kỳ đầu đặc biệt là tượng Thiên Phật hiền kiếp trên vách tường phần lớn mang tư thái điêu khắc kiểu Gandhara. Đó là do nghệ thuật Phật giáo triều đại Gupta hình thành trên cơ sở của nghệ thuật Phật giáo kiểu Gandhara. Nghệ thuật tạo tượng Phật thời kỳ đầu và giữa ở Vân Cương trong phương pháp điêu khắc y phục, trang sức, hoa sen ở giữa vầng hào quang sau lưng, hình vân trang trí xung quanh bảo quan của Bồ Tát, Dạ xoa dưới chân Thiên vương… đều mang dáng dấp kiểu Gupta.

Phật bản mệnh

shoptuongphat.com

Tượng Phật kiểu Mathura

Người Đại Nguyệt Chi sau khi dựng nước ở Gandhara, đã mở rộng lãnh thổ về phía Nam, chiếm cứ khu vực Mathura ở thượng du lưu vực sông Ấn Độ và sông Hằng. Thời kỳ đầu, nghệ thuật tạo tượng Phật kiểu Mathura phát triển trên nền tảng của điêu khắc, nặn tượng Ấn Độ cổ. Đặc trưng là tướng mặt tròn, thân thể tráng kiện, thể hiện phong cách của dân tộc Ấn Độ. Thời đại Gupta, nghệ thuật điêu khắc, nặn tượng Phật giáo kiểu Mathura được cách tân và nâng cao.

tượng Phật Marutha
tượng Phật Marutha

Điêu khắc lan can của tháp A Ma La Bà Đề ở Nam Ấn Độ được xây dựng vào thế kỷ II TCN cũng là hình tượng Phật Đà. Tượng cổ Phật Đà khai quật ở Mathura là tác phẩm của thời đại này. Tạo tượng có thân thể hùng vĩ, lông mày dài, sống mũi cao, môi vểnh ngược lên, tai to, không đeo khuyên, tóc mai kiểu xoắn ốc cao. Tượng Phật kiểu Mathura có một số hình thái, thủ pháp và sự khác biệt với phong cách Gandhara, chứng tỏ sự đặc sắc trong nghệ thuật tạo tượng của dân tộc Ấn Độ ngày càng nâng cao.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Tượng Phật kiểu Gandhara

Tại khu vực Gandhara phát hiện một di chỉ khảo cổ dùng tỷ lệ cơ thể người Hy Lạp cổ đại để tạo tượng Phật, còn gọi là kiểu Ấn Độ Hy Lạp hoặc Ấn Độ La Mã. Đây là di tích văn hóa của đế quốc Kushan. Đế quốc Kushan được thành lập từ bộ lạc Đại Nguyệt Chi sinh sống ở một dải núi Đôn Hoàng, Kỳ Liên ở phía Tây Trung Quốc vào trung kỳ thế kỷ I trước Công nguyên xây. Đời thứ ba vua Ca Sắc Nhị vương (Kanishka) (khoảng 120-162) biên giới của đế quốc Kushan, phía Tây từ Hàm Hải phía Đông đến Song Linh, trở thành đế quốc lớn nhất ở Tiểu Á.

tượng phật gandhara
Tượng đầu Phật, điêu khắc theo phong cách Gandhara
tượng Phật gandhara
tượng Phật gandhara

Theo phong cách Gandhara, thể cách của tượng Phật, tượng Bồ Tát toát lên khí chất hùng vĩ, tráng kiện như người châu Âu. Tướng mạo giống người Hy Lạp, nhưng cũng ít nhiều mang phong cách Ấn Độ. Các chuyên gia tổng kết đặc trưng của tượng Phật kiểu Gandhara như sau:

Tướng mặt: Trán rộng, mũi cao bằng với phần trán, mắt to, môi mỏng, cằm dưới rộng nhô ra, tóc búi, dạng sóng hoặc xoắn ốc, giữa hai bên lông mày có lông trắng.

Bàn tay, bàn chân: khắc hình bánh xe 1.000 nan hoa.

Y phục: cảm giác nhẹ nhàng, có thể biểu hiện chất liệu vải của vùng nhiệt đới. Đường nét mạnh mẽ.

Vầng hào quang sau lưng: Hình đĩa tròn, thường không trang trí thêm các họa tiết khác. Nhưng cũng có kiểu xung quanh đĩa tròn khắc hình tròn nhỏ hoặc hình răng cưa liên hoàn hoặc giữa đĩa tròn điêu khắc thành hoa văn.

Tham khảo: ý nghĩa vầng hào quang trên đầu và sau lưng tượng Phật

Hình tướng tổng thể: có tượng đứng, tượng ngồi, tượng tựa, tượng nằm. Tượng bản tôn phần lớn là ngồi, còn tượng Bồ Tát, thị giả, Hộ pháp đều là tượng đứng. Tượng ngồi có ngồi xếp bằng cả hai chân, ngồi xếp bằng một bên. Ngoài ra, còn có ngồi xổm, quỳ vừa, quỳ thấp.

Tham khảo: các tư thế của tượng Phật

Tòa Phật: Phần lớn là tòa vuông, dường như không có tòa hoa sen. Thành bên thường khắc sư tử hoặc người cúng dường lễ bái hoa sen.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Nghệ thuật tạo tượng Phật hưng khởi khi nào?

Nghệ thuật tạo tượng Phật hưng khởi từ vương triều Khổng Tước, nước Ma Kiệt Đà, A Dục Vương tức A Du Ca Vương (khoảng 272-232 TCN), sau khi kế thừa vương vị, đã không ngừng kết nối bang giao với các nước láng giềng. Hình thành đế quốc thống nhất có diện tích lãnh thổ rộng lớn trong lịch sử Ấn Độ- vương triều Khổng Tước, nước Ma Kiệt Đà. Thời điểm này tương đương với sau thời kỳ Chiến quốc của Trung Quốc.

Để hoằng dương Phật giáo, A Dục Vương chiêu mộ thợ điêu khắc từ Iran (Ba Tư) và thợ mộc Ấn Độ, cùng sáng tạo ra trụ đá khắc giáo nghĩa Phật giáo, gọi là trụ đá A Dục Vương. Trụ đá A Dục Vương nặng 50 tấn, cao trên 15m. Đầu trụ điêu khắc hình tượng sư tử, voi, trâu, ngựa, luân bảo, trang nghiêm hoa lệ, tái hiện phong cách và giá trị đặc trưng của nghệ thuật cổ đại.

Tham khảo: Nghệ thuật tạo tượng Phật trong chùa hang đá

Tương truyền thời đại A Dục Vương có 84.000 tòa tháp, để lưu giữ xá lợi Phật. Ngoài tháp có lan can bằng đá bao quanh, được trang trí bằng hình điêu khắc. Trong đó, tháp lớn Tang Kỳ bảo tồn tốt nhất, trên bia tường lớn của 4 tòa bốn phía điêu khắc tượng Phật A Di Đà và câu chuyện bản sinh. Nhưng không dùng hình tượng của ngài để biểu hiện mà dùng vật tượng trưng như tòa Phật, tóc Phật, các loại thủ ấn của Phật và cây Bồ đề để thay thế. Tức là biểu hiện bối cảnh Phật thuyết pháp, cũng chỉ có người nghe pháp ngồi xung quanh, trước sau, trái phải, ở giữa chỉ có 1 tòa vuông. Đây là hình thức tượng Phật sớm nhất ở Ấn Độ cổ.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Hình tượng Phật trong các đề tài nghệ thuật thường gặp

Trong nghệ thuật tạo tượng Phật, nghệ thuật hội họa, điêu khắc… của Phật giáo, có rất nhiều đề tài nghệ thuật được các nghệ nhân chế tác đưa vào các sản phẩm…

Tạo tượng Phật qua các câu chuyện Phật truyền

Còn gọi là Phật truyện đồ, đó là bức tranh vẽ cuộc đời giáo hóa chúng sinh của Phật Thích Ca Mâu Ni. Nhiều bức miêu tả trọn vẹn hành trình xuất gia, ngộ đạo và thành Phật của ngài hoặc chọn một sự tích, như bức tranh đức Phật thuyết Pháp. Trong chùa hang đá thường dùng hình thức phù điêu khắc họa cuộc đời của Phật Thích Ca Mâu Ni. Dựa vào các kinh điển như Thái tử thụy ứng bản khởi kinh, Tu hành bản khởi kinh, Phật bản hành tập kinh, quy nạp thành “Bát tướng Thích Ca” tức: Nhập thai, giáng sinh, chu du, xuất gia, tu đạo, giáng phục ma quân, sơ chuyển pháp luân, nhập diệt.

Tượng Phật chùa hang đá

Những câu chuyện bản sinh thường thấy như:

  • Tiên nhân Bố Phát Yểm Ni được Phật Nhiên Đăng thụ ký.
  • Bồ Tát thuyết pháp ở cung Đao lợi.
  • Voi trắng giáng thần, nhập thai.
  • Giáng sinh từ tay phải.
  • Thiên thần nghênh đón.
  • A Tư Đà xem tướng cho thái tử.
  • Tỷ thí võ nghệ.
  • Thái tử kết hôn.
  • Ra khỏi 4 cổng thành, thái tử gặp lão, bệnh, tử và vị sa môn.
  • Đối với cuộc sống hoa lệ trong cung, thái tử không sinh lòng vui thú.
  • Rời thành, xuất gia.
  • 6 năm tu hành khổ hạnh.
  • Hàng phục yêu ma.
  • Thành đạo.
  • Phạn Thiên khuyến thỉnh Phật thuyết pháp.
  • Sơ chuyển pháp luân ở vườn Lộc Dã, độ 5 tỳ khiêu. Hàng phục Hỏa long, 3 lần độ Ca Diếp.
  • Du hóa nước Ma Kiệt Đà.
  • Quay trở lại nước Ca Tỳ La, gặp phụ vương Tịnh Phạn.
  • Trưởng giả Cấp Cô Độc cúng dường vườn cây của thái tử Kỳ Đà.
  • Bay lên cõi trời, thuyết pháp cho thân mẫu Ma Da trong 3 tháng.
  • Đề Bà Đạt Đa dùng voi điên hại Phật. Phật điều phục voi điên

Và rất nhiều câu chuyện khác…

Tham khảo: Nghệ thuật tạo tượng Phật trong chùa hang đá

Tượng Phật qua câu chuyện bản sinh

Còn gọi là “bức tranh bản sinh” dùng hình thức hội họa hoặc phù điêu biểu hiện bản sinh Phật, tức sự tích tiền thân Phật Thích Ca Mâu Ni mà các kinh điển đề cập tới. Liên quan đến kinh điển ghi chép bản sinh Phật có Lục độ tập tinh, Bồ Tát bản duyên kinh, Sinh kinh, Bồ Tát bản hạnh kinh, Đại phương tiện Phật báo ân kinh, Bồ Tát bản sinh đăng luận, Nghĩa túc kinh, Ngũ bách đệ tử tự thuyết bản ký kinh.

Câu chuyện bản sinh sử dụng cách tạo hình tổng hợp, sắp xếp lần lượt hoặc lặp lại các giai đoạn phát triển nội dung trong một bức tranh nhấn mạnh tính liên tục và tự thuật của câu chuyện. Đề tài câu chuyện bản sinh thường được chọn có:

Tát Đỏa Vương hy sinh cánh tay để cứu thương nhân. Hiền ngu kinh viết: tiền thế của Phật là Tát Đỏa Vương. Bởi vì một đoàn thương nhân đáng thương bị lạc trong thung lũng tối đen nên ngài đã dùng thảm bông quấn 2 cánh tay, bôi dầu bơ, đốt thành ngọn đuốc soi sáng. Sau 6 ngày, các thương nhân cũng thoát hiểm.

Tượng Phật với đề tài “Bản sinh thái tử Tu Đạt Na”

Thái tử Tu Đạt Na là tiền thân của Phật. Thái tử là người thích hành thiện bố thí. Ai mong cầu đều cứu giúp. Quốc vương của nước đối địch phái 8 Bà La Môn đến đòi voi. Thái tử Tu Đạt Na lại đem voi trắng 6 ngà đã nhiều lần bảo vệ đất nước bố thí cho họ. Quốc vương vô cùng tức giận, đuổi toàn bộ gia quyến của thái tử ra khỏi cung. Trên đường đi, thái tử Tu Đạt Na vẫn không ngừng bố thí, đến cả vợ con và bản thân mình cũng đem ra bố thí. Cuối cùng, quốc vương bỏ ra vô số vàng bạc chuộc cả nhà thái tử về.

Tượng Phật với đề tài “Bản sinh thái tử Tát Đỏa”

Trong Hiền ngu kinh có viết: tiền thân Phật là thái tử Tát Đỏa. Vào một ngày, thái tử đi vào rừng thấy 1 con hổ mẹ và 2 con hổ con đang chết đói. Thái tử động lòng thương đã hy sinh thân mình để cho mấy con hổ kia được một bữa no bụng.

Tượng Phật với đề tài “Bản sinh Cửu sắc lộc vương”

Đây là một câu chuyện khuyến thiện trừ ác nổi tiếng trong kinh Phật. Tiền sinh của Phật là Cửu sắc lộc. Một ngày, bên bờ sông cứu được người bị chết đuối, nhưng người đó tham lam tiền thưởng đã bẩm báo với quốc vương chỗ ở của Cửu sắc lộc, dẫn đường cho người đi bắt ngài. Sau khi bị bắt, ngài kể lại cho quốc vương câu chuyện mình đã cứu người và được trả ơn như thế nào, quốc vương cảm động liền thả ngài. Về sau người tham lam kia mắc bệnh hủi mà chết.

Tượng Phật với đề tài “Bản sinh vua thỏ”

Nói đến câu chuyện tiền thân của Phật là vua thỏ hiến mình để tiên nhân tu hành qua cơn đói. Tranh tưởng này là hình chữ nhật có tựa đề bằng chữ Hán, có thể thấy bức bích họa này có 5 tình tiết quan trọng: “đối thoại giữa vua thỏ và tiên nhân”, “vua thỏ tự nướng mình”, “tiên nhân được một bữa no nê”, “tiên nhân nằm dưới đất”, “tiên nhân thu nhặt hài cốt của vua thỏ”.

Tượng Phật với đề tài “Bản sinh Đồ Đề Ba Lợi”

Nói về câu chuyện tiền thân của Phật, tiên nhân Bồ Đề Ba Lợi tu hành trong núi, bị quốc vương chặt tay, chân, tai, mũi vẫn kiên định giữ niềm tin. Bích họa kiểu tranh vòng tròn liên hoàn, nhưng cách bức đơn lẻ như: Quốc vương vào núi, cung nữ thỉnh pháp, quốc vương chặt tay tiên nhân, quốc vương chặt chân tiên nhân, quốc vương chặt tai, mũi tiên nhân, lần lượt biểu hiện tình tiết khác nhau. Mỗi bức họa áp dụng hình tranh dài kiểu ngang.

Tượng Phật trong các câu chuyện nhân duyên Phật

Hình thức tranh liên hoàn, vẽ các câu chuyện kể về Phật Thích Ca Mâu Ni khi du hành thuyết pháp, người tín phụng Phật pháp thì được lợi lạc, người phỉ báng thì bị báo ứng.

Tượng Phật với đề tài “Độ hóa nhạc thần Càn đạt bà vương”

Khi sắp nhập diệt, vì muốn độ hóa Càn đạt bà vương đức Phật đã chọn phương pháp thi diễn đàn. Càn đạt bà vương giỏi gảy đàn không (một loại nhạc cụ cổ đại), tự cho mình giỏi nhất thiên hạ. Trong cuộc thi diễn tấu, Phật Thích Ca hai lần gảy đứt dây đàn, cuối cùng không thể phân thắng bại. Khi dây đứt hết, cây đàn cũng chỉ là đồ bỏ đi. Càn đạt bà vương cảm thụ được sự vĩ đại của Phật pháp, liền quy y Phật giáo.

Tượng Phật qua các câu chuyện biến tướng

Tướng có ý là đồ họa. Đời Đường lưu hành một hình thức văn học dùng thuyết xướng (là loại hình kết hợp hát với nói lời bạch, xen kẽ văn xuôi với văn vần) để giảng thuật câu chuyện Phật truyền, gọi là biến văn. Đồng thời cũng lưu hành dùng phương thức hội họa miêu tả câu chuyện kinh Phật gọi là biến tướng, còn gọi là cách thức kinh biến, là cách thức vẽ câu chuyện kinh Phật lên giấy lụa hoặc bích họa. Tên biến tướng xác định dựa vào tên kinh thư. Như căn cứ theo Vô lượng thọ kinh, A Di Đà kinh tuyên truyền Tịnh Độ tông gọi là Vô Lượng Thọ kinh biến, A Di Đà kinh biến hoặc Di Đà tịnh độ biến. Các loại kinh biến có rất nhiều, như Di Lặc kinh biến, Hoa nghiêm kinh biến, Phật bản sinh kinh biến. Ngoài ra, còn có thể loại không căn cứ vào kinh Phật, mà dựa vào những miêu tả về địa ngục hoằng dương thuyết luân hồi trong kinh Phật gọi là Địa ngục biến tướng. Họa gia nổi tiếng thời Đường là Ngô Đạo Tử đã từng vẽ Địa ngục biến.

Tượng Phật với đề tài “Giáng ma biến”

Trung tâm của bức tranh là Tất Đạt Đa ngồi xếp bằng trên kim cương tọa, có 1,2 Bồ Tát thị giả bên cạnh, hai bên mỗi bên còn có cây Bồ đề cao to. Nội dung câu chuyện là Tất Đạt Đa ngồi tu hành trên kim cương tọa, bầu trời trong xanh, gió thổi nhè nhẹ, rừng núi yên tĩnh, ngài tập trung tư duy, quán tưởng tam muội. Tuy ngồi thiền định nhưng lại là quyết đấu cuối cùng của sinh tử và Niết bàn, phiền não và Bồ đề. Tượng trưng cho ma vương sinh tử, phiền não, xuất hiện quanh Tất Đạt Đa. Ma vương dẫn theo chúng ma lớn nhỏ, muốn dùng sự mỹ miều của ma nữ, vũ khí của ma quân, sức uy hiếp ghê gớm, những trò lừa bịp để quấy nhiễu Tất Đạt Đa đều không thành công. Cuối cùng, ma vương đành từ bỏ ý định quấy nhiễu Phật Đà, chính là Giáng ma biến.

Tượng Phật với đề tài “Niết bàn biến tướng”

Biểu hiện nỗi đau đớn tột cùng của đệ tử trước và sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch. Do số lượng nhân vật nhiều, phần lớn dùng bích họa, hội họa, phù điêu để biểu hiện, ít thấy điêu khắc tượng tròn. Đề tài này lưu hành ở thời kỳ Bắc triều, đến thời kỳ Tùy, Đường, khu vực Trung Nguyên đã không còn lưu hành. Giữa tường phía Tây ở hang 428 Mạc Cao, Đôn Hoàng có bích họa niên đại Bắc Chu về Niết bàn biến tướng. Trong bức tranh phía sau thân Phật Thích Ca nằm nghiêng sang phải, có hai hàng tỳ khiêu đang đau khổ tột cùng, mỗi người một biểu cảm.

A Đổ Vương biết Phật phục sinh từ Niết bàn, Thích Ca giáng xuống thế gian bằng Tam đạo bảo giới, Bát vương tranh phân xá lợi cũng là câu chuyện trong Niết bàn biến tướng, bích họa chùa hang đá Tân Cương cũng có nhiều biểu hiện với sắc thái khác nhau.

Tượng Phật chùa hang đá 1
Tượng Phật ở hang đá Vân Cương, Thiểm Tây, Trung Quốc.

Tượng Phật với đề tài “Duy Ma Biến”

Duy Ma Cật là Bồ Tát, còn gọi là Duy Ma La Khiết, Tỳ Ma La Khiết, gọi tắt là Duy Ma. Phật học đại từ điển viết: Bản dịch cũ gọi là Tịnh Danh, bản dịch mới gọi là Vô Cấu Xưng. Khi Phật còn tại thế, Duy Ma Cật là vị cư sỹ ở thành Tỳ Da Ly, hóa sinh từ tịnh độ Diệu Hỷ. Ngài thường an trụ nơi thế tục, trợ duyên Thích Ca giáo hóa chúng sinh, là đại lực sỹ pháp thân. Khi Phật ở tại thành Tỳ Da Ly, nước Am Ma La, hơn 500 vị trưởng giả trong thành đến nghe Phật thuyết pháp. Ngài lại cáo ốm không đến, thực ra là muốn Phật phái các Bồ Tát, tỳ khiêu đến hỏi thăm, nhân cơ hội để đàm luận Phật pháp. Bởi trí tuệ của ngài được liệt vào bậc nhất nên không có ai dám đến, ngoài Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Căn phòng của Duy Ma Cật nhỏ bé, nhưng có thể dung nạp vô số người viếng thăm. Nơi đây, cuộc đàm thoại giữa Bồ Tát Văn Thù và Duy Ma Cật bắt đầu. Nhiều Bồ Tát, thiên nhân và vô số chúng sinh khác đến nghe cuộc đàm luận vô song giữa hai vị có trí tuệ bậc nhất. Đây là bối cảnh hình thành Duy Ma kinh.

Đề tại Duy Ma cực thịnh trong bích họa, tranh cuộn chùa Phật thời Đông Tấn, Nam triều, Tùy, Đường, Ngũ đại, Bắc Tống. Đông Tấn có Tuân Úc, Trương Mặc, Cố Khải; Nam triều có Lưu Tống Lục Thám Vi, Viên Thiến, Túc Lương Trương Tăng Diêu; thời Tùy có Triển Tử Kiền, Tôn Thương tử; thời Đường có Diêm Lập Bản, Ngô Đạo Tử, Dương Đình Quang, Phạm Quỳnh, Tôn Vị, Chu Diêu, Lưu Hành Thần; Ngũ đại có Quán Hưu; Bắc Tống có Lý Công Lân đều từng vẽ Duy Ma biến tướng. Có thể thấy trong các sách sử như Tấn thư, Trinh quan công tư họa sử, Lịch đại danh họa ký, Đồ họa kiến vấn chí, Tự tháp ký, Tuyên Hòa họa phổ. Trong ngoài hang Long Môn thời Bắc triều đều là đề tài có liên quan đến Duy Ma biến tướng, ít nhất có 129 bức.

Hình tượng Phật trong các đề tài nghệ thuật thường gặp 1
Tượng Phật ở hang Long Môn, một trong các đề tài Duy Ma Biến

Tượng Phật với phù điêu “Duy Ma biến tướng”

Thể hiện này có nhiều hình thức, có tượng phù điêu trên mái am tượng Phật. Như mặt tranh phù điêu Duy Ma biến tướng của động Tân Dương trong quần thể hang đá Long Môn, nằm ở hai bên phía trên cửa trong hang, Duy Ma bên phải, Văn Thù bên trái, giữa là bản tôn Thích Ca Mâu Ni. Sau đổi thành Duy Ma bên trái vầng hào quang sau lưng bản tôn, Văn Thù bên phải vầng hào quang sau lưng bản tôn.

Có những bức tượng trên am thờ Phật như tượng Duy Ma biến tướng, Duy Ma, Văn Thù đa phần được đặt trong trang thờ được che bằng trường kỷ. Duy Ma đầu đội long quan (kiểu mũ thời cổ đại giống hình chiếc cốc úp ngược, phía trước cao, sau nhọn), mặc trang phục rộng thùng thình có thắt đai lưng to. Nắm đuôi hươu có hình như chiếc quạt mỏng. Chân đi giày lục hợp (hình dạng như chiếc ủng thấp cổ), tư thế hoặc ngồi ngẩng mặt hoặc nửa nằm nửa ngồi, trước giường có kê một chiếc kỷ án. Đứng bên cạnh Duy Ma Cật có thị nữ, thiên nhân. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ngồi ngẩng mặt. Bên cạnh có nhiều Bồ Tát, thiên nhân và vô số chúng sinh khác.

Tượng Phật với đề tài “Hồ trang duy ma”

Thường gặp ở bích họa thời kỳ Tùy, Đường, trong hang đá Đôn Hoàng, Duy Ma biến tướng hơn 61 bức. Trong đó hang đá thời kỳ Tùy, Đường phần lớn là tranh Duy Ma biến tướng diện tích lớn, số lượng nhân vật nhiều. Như phía trên mặt phía Bắc thành phía Tây hang 420 thuộc hang Mạc Cao, Đôn Hoàng có Duy Ma biến tướng thời Tùy, Duy Ma và Văn Thù lần lượt ngồi trên đỉnh yết sơn, không tường thành, kiến trúc móng cao, bên cạnh có các tỳ khiêu.

tượng Phật hang Mạc Cao
Tượng Phật ở hang Mạc Cao, Đôn Hoàng, Cam Túc, Trung Quốc

Duy Ma thời Tùy bên mặt Bắc thành phía Tây hang 276, Văn Thù thời Tùy mặt Nam thành phía Tây là tượng đứng, không có trướng kỷ hay tỳ khiêu.

Duy Ma thời Tùy bên mặt Bắc thành phía Tây hang 276, Văn Thù thời Tùy mặt Nam thành phía Tây là tượng đứng, không có trướng kỷ hay tỳ khiêu.

Duy Ma đầu thời Đường ở mặt Nam thành Đông hang 220, ở trên giường, có trường kỷ. Văn Thù đầu thời Đường ở mặt Bắc thành Đông, trên đầu đội bảo quan, bên trái có tỳ khiêu, bên phải phía dưới có đế vương xếp hàng lễ Phật, hai hàng bảo vệ.

Duy Ma biến tướng đầu thời Đường ở thành Bắc hang 335, bối cảnh hùng vĩ, nhiều nhân vật.

Duy Ma cật thời Thịnh Đường mặt Nam thành Đông hang 103 ngồi trên giường có trường kỷ, trước giường có kỷ án, bên kỷ án có nhiều tín đồ cúng dường. Văn Thù mặt Bắc thành Đông ngồi xếp hàng, đỉnh đầu đội bảo quan, bên cạnh có các tỳ khiêu, dưới có đế vương xếp hàng lễ Phật. Duy Ma trong Duy Ma biến tướng thời Thịnh Đường tay cầm đuôi hươu, hình thái, tướng mạo, khí chất giống với hình tượng Duy Ma do Cố Khải chế tác, nhưng phong cách nghệ thuật gần với phong cách của Ngô Đạo Tử.

Tượng Phật với đề tài “Pháp hoa kinh biến”

Đề tài này vẽ câu chuyện Bồ Tát Quán Âm cứu độ chúng sinh. Hang Mạc Cao, Đôn Hoàng có hơn 40 bức bích họa Pháp hoa kinh biến. Thời kỳ Tùy, Đường, lấy Quan Thế Âm là hình tượng khắc họa chủ đạo. Trong bích họa có phạm nhân niệm danh hiệu Quán Âm và gông cùm tự rơi xuống, trước khi chịu hình phạt niệm Quán Âm, đao trượng tự nhiên gãy đứt.

Tượng Phật với đề tài “Văn Thù, Phổ Hiền biến”

Pháp hoa kinh biến là bích họa Bồ Tát khá thịnh hành thời Đường, lần lượt vẽ hai vị Bồ Tát là Văn Thù, Phổ Hiền, ngồi trên sư tử xanh, voi trắng. Xung quanh có quyến thuộc, các ngài cưỡi mây vượt qua sông núi đến tham gia pháp hội Hoa nghiêm. 2 bức bích họa dùng nghệ thuật kết cấu đối xứng, lần lượt trang trí ở hai bên tượng Phật. Sau thời Tống vẫn còn lưu hành.

Tượng Phật với đề tài “Tịnh độ phương Tây biến”

Có thể nói, đề tài Pháp hoa kinh biến là những bức tranh tuyên truyền Tịnh Độ tông Phật giáo. Thể loại này ở đầu thời Đường mới lưu hành phổ biến. Tịnh Độ tông cho rằng, tịnh độ phương Tây là thế giới Cực Lạc không có đau khổ, ưu sầu. Người tín ngưỡng Phật A Di Đà sau khi chết sẽ được vãng sinh tịnh độ phương Tây. Dùng hình thức tranh, biểu hiện trực quan khung cảnh lầu gác, cây cối, chim muông, hoa sen thất bảo, ca hát, nhảy múa của thế giới Cực Lạc, qua đó khuyến thiện con người tín ngưỡng Phật A Di Đà.

Tịnh độ phương Tây biến của hang thứ 127 trong hang đá múi Mạch Tích thời Bắc triều, nhân vật, hệ thống kiến trúc phong phú, kết cấu nghiêm ngặt, khí thế hùng vĩ. Thời kỳ Bắc Ngụy có một bức bích họa miêu tả Tịnh độ biến quy mô nhất. Đây là tác phẩm có niên đại sớm  nhất hiện còn bảo tồn ở Trung Quốc. Trên mặt tranh là cung điện trang nghiêm, dưới có đài cao, hai bên có các lầu gác và cây lớn chọc trời. Phật A Di Đà ngồi nghiêm trang trong điện đường, Đại Thế Chí, Quán Âm đứng hai bên. Hai bên ngoài điện có vài chục đệ tử La hán đứng cung kính. Trước điện đường có hai vị đánh trống, 4 người ngồi trên đất tấu nhạc, chính giữa có 2 kỹ lạc thiên nhân cúi lưng nhảy múa. Bối cảnh hoa lệ, không khí vui vẻ, thay đổi phong cách trầm buồn của câu chuyện bản sinh Phật.

Tịnh Độ tông Phật giáo lấy an lạc làm mục đích tu hành, không không rời xa việc hoằng dương giáo lý nhà Phật. Nhưng hoàn toàn khác câu chuyện Phật truyền trước kia, luôn chủ trương đời  người là tịch diệt, thế giới hư vô vốn thanh tịnh nên phải cấm dục, khổ hạnh. Do đó, bích họa Tịnh độ phương Tây biến ca ngợi cuộc sống tràn đầy an lạc, có tác dụng hoằng dương Phật giáo, lưu truyền thịnh hành ở thời Đường, trở thành tác phẩm mỹ thuật có sắc màu tươi tắn, rực rỡ. Bích họa Tịnh độ phương Tây biến trong hang 127 núi Mạch Tích có niên đại sớm hơn hang Mạc Cao. Đây đều là những tác phẩm có giá trị nghiên cứu tranh kinh biến thời kỳ sớm.

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com

Ý nghĩa vầng hào quang trên đầu và sau lưng tượng Phật

Trong nghệ thuật hội họa Phật giáo, đỉnh đầu và sau lưng tượng Phật Đà, Bồ Tát, thánh giả hầu hết được bao trùm bởi một quầng sáng rực rỡ. Vì vầng hào quang ở đầu và lưng là đặc trưng phân biệt quả vị Phật giáo. Do đó, phải đặc biệt coi trọng xử lý vị trí này của tượng Phật và cũng có nhiều phương pháp.

Cảnh giới cao nhất của Phật giáo là “thành Phật”, bản chất của giác ngộ là ánh sáng quang minh phổ chiếu. Do đó, Phật Đà – quả vị cao nhất không những có vầng hào quang ở đầu, mà còn có vầng hào quang sau lưng, tượng trưng đã đạt được cảnh giới đại ngộ.

Bồ Tát là quả vị cao thứ hai chỉ có vầng hào quang ở đầu không có sau lưng.

Thanh văn, Hộ pháp có quả vị sau Bồ Tát, dựa vào giáo nghĩa chỉ có những vị viên mãn đức hạnh mới có vầng hào quang ở đầu.

Trong hội họa Phật giáo, có một số vị đại Bồ Tát không những có vầng hào quang ở đầu mà còn có ở lưng. Thanh văn và Hộ pháp có vầng hào quang ở đầu biểu thị địa vị thần thánh của họ.

Trong điêu khắc tượng Phật, cũng có nhiều vầng hào quang ở đầu và vầng hào quang ở lưng hình thuyền. Trong đó, có nhiều kiểu dáng và phương pháp chế tác mang đặc điểm và phong cách thời đại, đây chính là căn cứ để luận đoán niên đại của một tác phẩm.

vầng hào quang tượng Phật
Tượng Quán Âm (niên đại chưa xác định) tìm thấy ở Trung Quốc
vầng hào quang tượng Phật
vầng hào quang tượng Phật
vầng hào quang tượng Phật
vầng hào quang tượng Phật

Phật bản mệnh

Shoptuongphat.com